Search This Blog
Showing posts with label M. Show all posts
Showing posts with label M. Show all posts
0 MÃ ĐỀ NƯỚC-Ottelia alismoides-chữa phù thũng, hen suyễn
Thời gian
MÃ ĐỀ NƯỚC
Tên khác: Hẹ nước, Vợi.
Tên khoa học: Ottelia alismoides (L.) Pers.; thuộc họ Lá sắn (Hydrocharitaceae).
Tên đồng nghĩa: Boottia
alata Gagnep.; Boottia bodinieri
(H.Lév. & Vaniot) H.Lév. & Vaniot; Boottia
lanceolata Gagnep.; Boottia thorelii
Gagnep.; Damasonium alismoides (L.) R.Br.;
Damasonium indicum Willd.; Damasonium javanicum Blume; Damasonium lactucifolium Planch.; Damasonium lancifolium C.Presl; Damasonium timorense Zipp. ex Span. Damasonium tranquebariense Schult.f.; Hydrocharis bodinieri H.Lév. & Vaniot;
Hymenotheca latifolia Salisb.; Ottelia alata (Gagnep.) H.Li; Ottelia alismoides var. cordifolia Kuntze; Ottelia alismoides var. lacustris
(Kom.) Kitag.; Ottelia alismoides
f. lacustris Kom.; Ottelia alismoides var. lanceolata Kuntze; Ottelia alismoides var. oryzetorum
(Kom.) Kitag.; Ottelia alismoides f. oryzetorum Kom.; Ottelia bodinieri (H.Lév. & Vaniot) Dandy; Ottelia condorensis Gagnep.; Ottelia
dioecia S.Z.Yan; Ottelia ensiformis
Blanco; Ottelia hoffmeisteri Klotzsch;
Ottelia indica (Willd.) Planch. ex
Dalzell & A.Gibson; Ottelia japonica
Miq.; Ottelia javanica (Blume) Voigt;
Ottelia lactucifolia (Planch.) Walp.;
Ottelia lanceolata (Gagnep.) Dandy; Ottelia philippinensis Ostenf.; Ottelia thorelii (Gagnep.) Dandy; Stratiotes alismoides L.; Stratiotes quinquealatus Stokes
Mô tả (Đặc điểm thực vật): Cây thuỷ sinh, chìm. Thân ngắn mọc ngắn ở dưới
nước. Lá 5-10, biến đổi rất lớn; phiến mỏng tròn, màu xanh dợt hay nâu nâu, nhẵn,
đường kính 5-20cm, cuống lá dài hay ngắn là do độ sâu của nước quyết định. Hoa
đơn độc mọc ở nách lá, màu trắng, ít khi hường, 6 nhị, 6 vòi nhuỵ. Bầu dưới,
dài 2,5cm. Quả bế thuôn, ở mặt ngoài có 6 cánh dọc dạng làn sóng, chứa nhiều hạt.
Bộ phận dùng: Toàn cây phơi hay sấy khô (Herba Otteliae).
Sinh thái, Phân bố: Cây của nhiều miền Malaysia, được truyền vào
nước ta, mọc trong các ao hồ, ở chỗ có bùn, thông thường ở ruộng nước, suối.
Phân nhiều ở vùng đồng bằng.
Thu hái: Thu hái toàn cây quanh năm.
Thành phần hoá học: Trong cây có diarylheptanoid, caroten 2,6mg,
vitamin C 17mg.
Tính vị, tác dụng: Vị ngọt, nhạt; có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu,
long đờm, giải nhiệt.
Công dụng, cách dùng: Thân và lá rửa sạch, luộc qua rồi xào hoặc nấu
canh ăn được. Dân gian dùng Mã đề nước chữa phù thũng, hen suyễn, lao phổi.
Tài liệu tham khảo:
Võ
Văn Chi (2013), Từ điển cây thuốc Việt Nam Tập I, Nhà xuất bản Y Học
The
Plant List 2013
Hoye
TR1, Ayyad SE, Beckord HJ, Brown SG.s (2013); New diarylheptanoids and a
hydroxylated ottelione from Ottelia alismoides; Nat Prod Commun;8(3):351-8.
Chinese
Plant Names
0 MÃ ĐỀ KIM-Dichondra repens-chữa viêm gan cấp tính
Thời gian
MÃ ĐỀ KIM
Tên khác: (cây)
Hai hạt, Kim tiền thảo.
Tên khoa học:
Dichondra repens J.R. Forst. & G.
Forst.; thuộc họ Bìm bìm (Convolvulaceae).
Tên đồng
nghĩa: Dichondra micrantha
Meisn.; Dichondra repens var. repens
Mô tả (Đặc điểm
thực vật): Cây thảo nhỏ sống nhiều năm, bò ở đất có rễ bất định; thân mảnh
có lông nằm. Lá có phiến hình thận tròn, dài 2-3cm, gân từ gốc 7, có lông thưa,
cuống dài hơn phiến. Hoa ở nách lá; cuống ngắn hơn cuống lá; tràng hoa hình đĩa
nhỏ, có lông; nhị 5, lá noãn 2, rời nhau, vòi nhuỵ 2. Quả bế 2, tròn, có lông.
Hoa tháng 4-5.
Bộ phận dùng:
Toàn cây phơi hay sấy khô (Herba
Dichondrae).
Phân bố: Cây
có nguồn gốc Nam Trung Quốc, có thấy ở miền bắc Việt Nam. Cây mọc ở dọc đường
đi, đất có cỏ và nơi đất ẩm.
Thu hái: Toàn
cây quanh năm, rửa sạch dùng tươi hay phơi khô.
Thành phần
hóa học: β-sitosterol, vanillin, octatriacontane, maltol, ursolic acid,
scopoletin và umbelliferone.
Tính vị, tác
dụng: Vị cay, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, giải độc, lợi
tiểu.
Công dụng: Cây
dùng để chữa: Viêm gan, viêm túi mật; Viêm thận, phù thũng, bệnh đường tiết niệu, sỏi;
Chữa lỵ.
Cách dùng, liều
dùng: Ngày dùng 15-30g, dạng thuốc sắc, thường phối hợp với các vị thuốc
khác. Dùng ngoài trị tràng nhạc, cụm nhọt ở ngực, đinh nhọt, đòn ngã chấn
thương. Dùng cây tươi giã đắp tại chỗ.
Bài thuốc:
1. Chữa viêm
gan cấp tính: Mã đề kim, cât Ban, mỗi vị 60g, giã nát chiết lấy dịch, thêm
mật ong mà dùng.
2. Chữa viêm
thận, phù thũng: Mã đề kim, Mã đề, vỏ quả Bí đao cạo sạch lông, mỗi vị
15-30g sắc nước uống.
Tài liệu tham
khảo:
Võ Văn Chi (2013), Từ điển cây thuốc Việt Nam Tập I,
Nhà xuất bản Y Học
Liu Yuming, Liang Guangyi, Zhang Jianxin, Wu Kongyun, Xu Bixue, Luo Bo (2002); Studies on chemical constituents of Dichondra repens;Europe PubMed Central; 37(8):577-579]
The Plant List 2013
0 MÃ ĐỀ Á-Plantago asiatica-chữa tiểu tiện buốt
Thời gian
MÃ ĐỀ Á
Tên khác:
Xa tiền
Tên tiếng
Anh: Chinese plantain, obako, arnoglossa
Tên khoa học:
Plantago asiatica L.; Họ Mã đề
(Plantaginaceae).
Tên đồng
nghĩa: Plantago asiatica subsp.
Asiatica; Plantago asiatica var. brevior Pilg.; Plantago asiatica var. densiuscula
Pilg.; Plantago asiatica f.
folioscopa (T.Itô) Honda; Plantago
asiatica var. laxa Pilg.; Plantago asiatica var. lobulata Pilg.; Plantago asiatica f. paniculata
(Makino) Hara ; Plantago asiatica f. rosea
Makino ex Nakai; Plantago formosana Tateishi
& Masam.; Plantago hostifolia
Nakai & Kitag. ; Plantago major var. asiatica (L.) Decne.; Plantago
major var. folioscopa T.Itô ; Plantago
major f. paniculata Makino
Mô tả (Đặc điểm
thực vật): Cây thảo lâu năm cao 20-60cm có rễ to. Lá chụm ở mặt đất, phiến
xoan dài 11-12cm, rộng 4-9cm, hai đầu tù, mép nguyên, nhăn, gân chính 5, mỏng
không lông; cuống dẹp, dài đến bằng phiến. Bông đứng cao 20-45cm. Hoa nhỏ màu
trắng không lông, lá dài bầu dục cao 1,8-2mm; tràng có ống mang 5 thuỳ xoan; nhị
4. Quả hộp xoan, cao to 3,5 x 2mm, hạt 4-6 to, dài đến 1,8mm, đen. Cây ra hoa
tháng 5-9, quả tháng 6-10.
Bộ phận dùng:
Phần cây trên mặt đất (Herba Plantaginis),
thường gọi là Xa tiền thảo. Hạt – (Semen
Plantaginis), thường gọi là Xa tiền tử.
Phân bố: Ở
Việt Nam cây mọc ở trảng vùng núi cao ở Ðà Lạt, tỉnh Lâm Ðồng. Trên thế giới
cây có ở Trung Quốc, Bangladesh, Bhutan, India, Indonesia, Japan, Korea,
Malaysia, Nepal, Sri Lanka.
Sinh thái: Cây
thường mọc ở sườn núi, khe núi, bờ sông, ruộng ,ven đường, đất trống, bãi cỏ; ở
độ cao 3800 m so với mực nước biển.
Thu hái: Thu
hái khi cây đã có quả chín, phơi khô và đập quả lấy hạt, rồi phơi khô tiếp để cất
dành.
Thành phần
hoá học: Trong quả, hạt có nhiều chất nhầy, glucosid aucubin, acidic
polysaccharide (PLP) , acid plantenolic, cholin, adenin và nhựa. Trong lá có chất
nhầy chất đắng caroten, vitamin C, vitamin K và acid citric. Trong cây có
glucosid aucubin.
Tính vị, tác
dụng: Dược liệu có vị ngọt, tính hơi hàn; có tác dụng thanh nhiệt lợi niệu,
thẩm thấp thông lâm, minh mục, khư đàm.
Công dụng:
Thường dùng chữa: 1. Thuỷ thũng đầy trướng; 2. Tiểu tiện buốt; 3. Tả lỵ; 4. Mắt
đỏ sưng đau; 5. Ho lâu ngày, viêm phế quản.
Tài liệu dẫn:
Võ Văn Chi (2013), Từ điển cây thuốc Việt Nam Tập I,
Nhà xuất bản Y Học
Lu Gong, Hua Zhang, Yuge Niu, Lei Chen, Jie Liu,
Sierkemideke Alaxi, Pingping Shang, Wenjuan Yu, and Liangli (Lucy) Yu;
Novel Alkali Extractable Polysaccharide from Plantago asiatic L. Seeds and Its
Radical-Scavenging and Bile Acid-Binding Activities; J. Agric. Food Chem.,
2015, 63 (2), pp 569–577
Flora of China Vol. 19 Page 495, 497
0 MÃ ĐỀ- chữa sỏi niệu và nhiễm trùng đường niệu
Thời gian
MÃ ĐỀ
Tên khác:
Xa tiền, Bông mã đề, Suma (Tày), Nhả én dứt (Thái).
Tên khoa học:
Plantago major L.; thuộc họ Mã đề (Plantaginaceae).
Tên đồng
nghĩa: Plantago borysthenica Wissjul.; Plantago
dregeana Decne.; Plantago gigas
H. Lév.; Plantago jehohlensis Koidz.;
Plantago latifolia Salisb.; Plantago macronipponica Yamam.; Plantago major var. borysthenica Rogow.; Plantago
major var. gigas (H. Lév.) H.
Lév.; Plantago major var. jehohlensis (Koidz.) S.H. Li; Plantago major var. kimurae Yamam.; Plantago
major var. major; Plantago major f. major; Plantago major
var. paludosa Bég.; Plantago major
var. pauciflora (Gilib.) Bég.; Plantago
major var. sawadai Yamam.; Plantago major f. scopulorum Fr.; Plantago
major var. sinuata (Lam.) Decne.;
Plantago sawadai (Yamam.) Yamam.; Plantago villifera Kitag.
Mô tả (Đặc điểm
thực vật): Cây thảo, sống hàng nãm, có thân ngắn. Lá mọc thành hình hoa thị,
hình trứng, dài 5 - 12 cm, rộng 3,5 - 8 cm, đầu tù hơi có mũi nhọn, gân lá hình
cung, mép uốn lượn, nguyên hoặc có răng cưa nhỏ, không đều; cuống lá dài 5 -10
cm, loe ở gốc. Cụm hoa mọc ở kẽ lá thằnh bông có cán dài hơn lá; hoa nhỏ có lá
bắc hình trứng, ngắn hơn đài; đài 4 thùy hơi có gờ, dính nhau ở gốc; tràng hoa
mỏng, khô xác, có 4 thùy hình tam giác nhọn, xếp xen kẽ vói các lá đài; nhị 4,
chỉ nhị mảnh; bầu hình cầu, có 2 ô. Quả nang, hình chóp thuôn, dài 3,5 - 4 mm,
mở bằng một nắp nứt ngang trên các lá đài; hạt hơi dẹt, màu nâu hoặc đen bóng. Mùa
hoa quả : tháng 5-8.
Bộ phận dùng:
Phần cây trên mặt (Herba Plantaginis),
thường gọi là Xa tiền thảo và hạt (Semen Plantaginis), thường gọi là Xa tiền
tử.
Phân bố: Trên
thế giới, mã đề phân bố ở tất cả các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới của các châu
lục. Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Philippin, Indonesia, Ấn Độ
và một số tỉnh phía nam Trung Quốc... là những nơi có nhiều mã đề trong các quần
thể mọc hoang cũng như trồng trọt, ở Việt Nam, mã đề mọc hoang dại ở vùng núi.
Độ cao phân bố có thể hơn 1600 m (ở Đồng Văn và Mèo Vạc - Hà Giang). Cây còn gặp
ở một số đảo lớn như Hòn Mê (Thanh Hóa); Cát Bà (Hải Phòng); Cô Tô (Quảng
Ninh)...
Sinh thái: Mã
đề là cây ưa sáng, ưa ẩm và có khả năng chịu hạn nhẹ, thích nghi cao với vùng
có khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm. ở vùng núi cao lạnh (nhiệt độ trung bình 15 -
16°C), cây sinh trưởng kém, lá nhỏ và tổng khối lượng chất xanh cũng ít. Cây ra
hoa quả nhiều, trên một cá thể có thể thu được 10.000 - 14.000 hạt; Trong tự
nhiên, khi cây tàn lụi, hạt giống rd xuống đất và có thể tồn tại qua mùa đông,
sau đó mới nảy mầm.
Thu hái:
Vào tháng 7-8, lúc quả chín, thu hái toàn cây đem về phơi khô, đập quả lấy hạt,
rồi phơi khô cất dành.
Thành phần
hoá học:
Lá mã đề chứa iridoid (aucubosid, catalpol), acid
phenolic và ester phenylpropanoic của glycosid, majorosid. Dược điển Pháp X quy
định hàm lượng aucubin phải đạt 0,5%. Sấy ở nhiệt độ 80°, hàm lượng aucubin cao
hơn ỏ 40°.
Lá còn chứa chất nhầy vói hàm lượng là 20% (Giáo
trình dược liệu, tập 1,1998). Dược điển Việt Nam I, tập 2 quy định hạt phải có
chỉ số nở tối thiểu là 5.
Hạt chứa chất nhầy giàu D-galactose, L - arabinose
và có khoảng 40% acid uronic, dầu béo, trong đó có acid 9 - hydroxy cis - 11 -
octadecenoic (đồng phân của acid ricinoleic) 1,5%
Ngoài ra, mã đề có nhiều flavonoid: apigenin,
quercetin, scutelarein, baicalein, hispidulin
(5,7,4'-trihydroxy-6-methoxy-flavon), luteolin-7-glucosid, luteolin-7-glucuronid,
homoplantaginin (= 7-O-β-D-glucopyranosyl-5,4'- dihydroxy - 6 - methoxyflavon),
nopitrin (=7-0-ị3-D- glucopyranosyl - 5,3',4'-trihydroxy-6-methoxyflavon), 7-O-β-D-glucopyranosyl-
5,6,3',4' -trihydroxyflavon).
Mã đề còn chứa nhiều chất khác như acid cinamic,
acid p. coumaric, acid ferulic, acid cafeic, acid chlorogenic), caroten,
vitamin K, vitamin C (Bài giảng dược liệu, tập I, 1998).
Tính vị, tác
dụng: Mã đề có vị ngọt, tính mát, có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu, lợi phế,
làm long đờm.
Công dụng: Thường
dùng chữa: 1. Sỏi niệu và nhiễm trùng đường niệu, viêm thận, phù thũng; 2. Cảm
lạnh ho, viêm khí quản; 3. Viêm ruột, lỵ; 4. Viêm kết mạc cấp, viêm gan; 5. Ðau
mắt đỏ có màng. Dùng toàn cây 15-30g, hạt 5-10g dạng thuốc sắc. Dùng ngoài, giã
cây tươi đắp mụn nhọt.
Ở Thái Lan, toàn cây được dùng lợi tiểu, trị viêm họng
và dùng ngoài trị viêm mủ da, sâu bọ cắn và dị ứng.
Cách dùng: Lá sắc hoặc nấu cao uống làm thuốc thông
tiểu, chữa ho lâu ngày, viêm khí quản, tả lỵ, mắt đỏ đau. Cả cây nấu cao đặc
bôi trị bỏng. (Lấy bông nhúng thuốc đắp lên chỗ bỏng băng lại, mỗi ngày thay 1
lần). Cây tươi sắc nước uống chữa huyết áp cao. Lá tươi sắc uống chữa lỵ cấp
tính và mạn tính. Lá tươi giã nát đắp mụn nhọt, làm mụn nhọt chóng vỡ mủ và mau
lành.
Bài thuốc:
1. Chữa lỵ: Mã
đề, đây mơ lông, cỏ seo gà, mỗi vị 20g. sắc uống.
2. Chữa người
già đái khó, cơ thể nóng: Hạt mã đề 1 chén (có dung tích 50 ml), bỏ vào
túi, sắc lấy nước. Dùng nước này nấu cháo lứa kê mà ăn.
3. Chữa tiểu
ra máu: Lá mã đề, cỏ ích mẫu, giã vắt lấy nước cốt uống.
4. Chữa sưng
dương vật: Hạt mã đề tán nhỏ, mỗi lần uống 1 thìa, ngày 2 lần.
5. Chữa trẻ em
tiểu tiện khó: Mã đề giã vắt lấy nước, hòa vói ít mật ong cho uống.
6. Chữa đau mắt:
Mã để giã vắt lấy nước cốt, hòa vdi nước mãng tre vòi, lọc trong mà nhỏ mắt.
7. Thuốc lợi
tiểu: Hạt mã đề 10g, cam thảo 2g, nước 600 ml. sắc còn 200 ml, chia 3 lần uống
trong ngày.
8. Chữa ho đờm:
Mã đề 10g, cam thảo 2g, cát cánh 2g, nước 400ml. Sắc còn 200 ml, chia 3 lần
uống trong ngày. Nếu không có cam thảo, có thể thay bằng đưòng cho đủ ngọt.
9 Chữa phù
thũng và tiêu chảy kèm sốt, ho và nôn: Hạt mã đề, ý dĩ sao, đều bằng nhau.
Tán bột, uống mỗi lần 10g, ngày dùng 30g.
10. Chữa tiêu
chảy: Mã đề tươi 1-2 nắm, rau má 1 nắm, cỏ nhọ nồi (hoặc lá phèn đen) 1 nắm.
Sắc đặc, chia nhiều lần uống.
11. Chữa sốt
xuất huyết:
a. Mã đề (hoặc cối xay, rễ cỏ tranh) 20g, rau má
30g, cỏ nhọ nồi 30g. Có thể dùng tươi (giã vắt lấy nưốc uống), hoặc sắc uống.
Bài thuốc này cũng có thể dùng để phòng bệnh.
b. Mã đề 40g, cỏ nhọ nồi 40g, rau má (hoặc cát căn)
40g, rau sam 40g, kim ngân 30g, hoa hoè 10g, thảo quyết minh 10g. Sắc với 300
ml nước, lấy 100 ml, uống nước đầu, sau đó sắc nước thứ hai và thứ ba, uống tiếp
trong ngày.
12. Chữa bỏng:
Nước sắc mã đề đậm đặc 100% (100 ml = 100g mã đề khô), trộn đều vói lanolin
50g, dầu parafin 50g. Bôi thuốc mỡ lên vết bỏng và băng lại.
13. Chữa giai
đoạn đầu của bệnh lao phổi: Hạt mã đề 10g, đảng sâm 16g, sơn dược 15g, ý dĩ
10g, mạch môn 10g, hạt mơ Trung Quốc (Prunus
mume) 10g, cam thảo 3g. sắc với 600 ml nước, còn 200 ml. Chia làm 2-3 lần uống
trong ngày.
14. Chữa đái
tháo đường: Hạt mã đề 6g, sơn dược 15,5g, sinh địa 15,5g, phục linh 15,5g,
phụ tử 15,5g, sơn thù du 10g, trạch tả 10g, quế 10g, ngưu tất 10g, mẫu đơn bì
6g. Làm thành viên 2,5g, mỗi lần uống 4 viên, agày 2 lần. Hoặc sắc với 800 ml
nước, còn 450 ml, mỗi lần uống 150 ml, ngày 3 lần.
15. Dùng trong
bệnh sỏi niệu để thúc đẩy sự bài xuất sỏi:
a. Bệnh sỏi niệu
thể nhẹ: Hạt mã đề 12 - 40g, kim tiền thảo 40g, thạch vĩ 20- 40g, hoạt thạch
20 - 40g, hải kim sa 12 - 40g, đông quỳ tử 12 - 20g, ngưu tất 12g, chỉ xác 12g,
hậu phác 12g, vương bất lưu hành 12g. Có tác dụng bài xuất sỏi đường tiết niêu
có đường kính 0,5 - 0,9 cm.
b. Bệnh sỏi niệu
thể nặng: Hạt mã đề 12 - 40g, kũn tiền thảo 40g, thạch vĩ 20- 40g, hoạt thạch
20 - 40g, miết giáp 12 - 40g, tam lăng 20g, ý dĩ 20g, ngưu tất 20g, nga truật
20g, chỉ xác 12g, hậu phác 12g, tạo giác thích 12g, hạ khô thảo 12g, xuyên sơn
giáp 12g, bạch chỉ 12g. Có tác dụng bài xuất sỏi đường tiết niệu có thể tích
tương đối to hơn, lâu không di động.
16. Chữa viêm
loét dạ dày tá tràng thể tỳ vị hư hàn, cố thiểu toan dạ dày: Mã đề 10g,
hoàng bá 18g, đảng sâm 12g, ô mai 10 quả; phụ tử chế, hoàng liên, đương quy, mỗi
vị 8g; quế chi, tế tân, can khương, mỗi vị 6g. sắc uống ngày một thang.
17. Chữa tiêu
chảy mạn tính: Hạt mã đề 8g; cát căn, rau má, đảng sâm, cam thảo dây, mỗi vị
12g; cúc hoa 8g. sắc uống ngày một thang.
18. Chữa viêm
gan cấp tính:
a. Mã đề 20g, nhân trần 40g, hạ khô thảo 20g, đại
phúc bì 16g, đảng sâm 12g. sắc uống ngày một thang.
b. Hạt mã đề, nhân trần, mỗi vị 20g; chi tử sao, phục
linh, trư linh, trạch tả, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.
c. Mã đề 16g, lá bọ mẩy 20g, ý dĩ 16g; nhân trần, đại
phúc bì, mỗi vị 12g; chi tử, hương phụ, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang
19. Chữa viêm
gan mạn tính (Nhân trần ngũ linh thang gia giảm): Mã đề 12g, nhân trần 20g;
đảng sâm, ý dĩ, mỗi vị 16g; bạch truật, phục linh, trạch tả, mỗi vị 12g; trư
linh 8g. Sắc uống ngày một thang.
20. Chữa viêm
cầu thận cấp tính (Việt tỳ thang gia vị): Mã đề 16g, thạch cao 20g; ma
hoàng, bạch truật, đại táo, mỗi vị
12g; mộc thông 8g; gừng, cam thảo, quế
chi, mỗi vị 6g. sắc uống ngày một thang.
21. Chữa viêm
cầu thận mạn tính (Vi linh thang gia giảm):
a. Mã đề 20g, ý dĩ 16g; thương truậl, phục linh bì,
trạch tả, mỗi vị 12g; quế chi, hậu phác, mỗi vị 6g; xuyên tiêu 4g. sắc uống
ngày một thang.
b. Mã đề, bạch truật, bạch thược, bạch linh, trạch tả,
mỗi vị 12g; phụ tử chế, trư linh, mỗi vị 8g; can khương 6g, nhục quế 4g. sắc uống
ngày một thang.
22. Chữa viêm
bàng quang cấp tính: Mã đề 16g; hoàng bá, hoàng liên, phục linh, rễ cỏ
tranh, mỗi vị 12g; trư linh, mộc thông, hoạt thạch, bán hạ chế, mỗi vị 8g. sắc
uống ngày một thang.
23. Chữa bí tiểu
tiện, đái dắt, đái buốt: Bông mã đề 12g, cao ban long 20g, rễ cỏ tranh 12g,
nhục quế 4g. sắc uống ngày một thang.
24. Chữa sỏi
tiết niệu kèm theo bội nhiễm đường tiết niệu:
a. Mã đề 20g, kim tiền thảo 40g, tỳ giải 20g; trạch
tả, uất kim, ngưu tất, mỗi vị 12g; kê nội kim 8g. sắc uống ngày một thang.
b. Mã để 20g, Jdm tiền thảo 40g; sinh địa, đạm trức
diệp, mỗi vị 16g; mộc thông, cam thảo sao cháy, kê nội kim, mỗi vị 8g. sắc uống
ngày một thang. Nếu đái ra máu thêm : cỏ nhọ nồi 16g, tiểu kế 12g. Nếu đau nhiều
thêm : ô dược, uất kim, diên hồ sách, mỗi vị 8g.
25. Chữa sỏi
tiết niệu gây sung huyết, chảy máu nhiều: Mã đề 20g, kim tiền thảo 40g, ý
dĩ 16g, ngưu tất 12g; đào nhân, uất kim, chỉ xác, vỏ cau, kê nội kim, mỗi vị
8g. Sắc uống ngày một thang.
26. Chữa sỏi
tiết niệu nhỏ không có cơn đau, để làm tan sỏi hoặc bài tiết ra ngoài: Hạt
mã đề, kim tiền thảo, bạch mao căn, mỗi vị 20g, ý dĩ 12g. Sắc uống ngày một
thang.
27. Chữa khí
hư:
a. Dịch hoàng thang: Hạt mã đề sao 4g; sơn dược, khiếm
thực, mỗi vị 40g; hoàng bá 8g, bạch quả (đập nát) 10 quả. sắc uống ngày một
thang.
b. Long đởm tả can thang gia giảm : Mã đề, hạt mã đề,
sơn chi, tỳ giải, ý dĩ, mỗi vị 12g; long đởm thảo, sài hồ, bạch thược, sinh địa,
mộc thông, hoàng bá, phục linh, mỗi vị 8g. sắc uống ngày một thang.
28. Viêm tai
giữa cấp tính:
Hạt mã đề, long đởm thảo, hoàng cầm, mộc thông, trạch
tả, smh địa, mỗi vị 12g; chi tử, đương quy, mỗi vị 8g; cam thảo 4g. sắc uống
ngày một thang.
Tài liệu dẫn:
Bộ môn dược liệu (2011), “Bài giảng dược liệu”, tập
I. Trường đại học Dược Hà Nội
Viện Dược liệu (2004), “Cây thuốc và động vật làm
thuốc Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, tr. 203-205
Võ Văn Chi (2013), Từ điển cây thuốc Việt Nam Tập I,
Nhà xuất bản Y Học
FOC Vol. 19 Page 495, 497
The Plant List 2013
0 MIỆNG KÍN HAI MÀU-Cleisostoma discolor
Thời gian
MIỆNG KÍN HAI MÀU
Tên khác: Mật khẩu biến
màu; Nhục lan màu.
Tên khoa học: Cleisostoma discolor Lindl.; thuộc họ
(Phong lan Orchidaceae).
Tên đồng nghĩa: Cleisostoma auriculatum (Rolfe) Garay; Cleisostoma termissum (Rchb.f.) Garay; Gastrochilus rostellatus (Hook.f.)
Kuntze; Saccolabium rostellatum
Hook.f.; Sarcanthus angkorensis Guillaumin;
Sarcanthus auriculatus Rolfe; Sarcanthus discolor (Lindl.) J.J.Sm.; Sarcanthus josephi J.J.Sm.; Sarcanthus macrodon Rchb.f.; Sarcanthus termissus Rchb.f.
Mô tả (Đặc điểm thực vật): Lan sống phụ
sinh, thân ngắn, rễ lớn. Lá hẹp dài 10 - 18cm, rộng 1,5 - 2cm, đầu có 2 thùy nhọn
không đều, dày. Cụm hoa dài bằng lá, chia nhánh, có 8 - 10 hoa nhỏ, thưa. Cánh
môi nhỏ, chia 3 thùy, gốc có cựa thuôn nhọn.
Miệng kín hai màu: Cleisostoma discolor Lindl.
Phân bố: Cây mọc ở Gia Lai, Daklak, Kontum, Đồng Nai và phân bố
ở Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia....
Tài
liệu tham khảo:
Trần Hợp (1998), Phong lan Việt Nam, NXB
Nông nghiệp trang 62.
The Plant List 2013
0 MÃ ĐẬU LINH KHÁC LÁ-Aristolochia kaempferi
Thời gian
MÃ ĐẬU LINH KHÁC LÁ
Tên khác: Mã
đậu linh lá to; Sơn dịch kaempf, Mã đậu linh khác lá, Phòng kỷ, Hán trung phòng
kỷ, Thanh mộc hương.
Tên khoa học:
Aristolochia kaempferi Willd.; họ
Nam mộc hương (Aristolochiaceae).
Tên đồng
nghĩa: Aristolochia chrysops (Stapf)
E.Wilson ex Rehder; Aristolochia
dabieshanensis C.Y.Cheng & W.Yu; Aristolochia
heterophylla Hemsl.; Aristolochia
kaempferi f. heterophylla (Hemsl.)
S.M.Hwang; Aristolochia kaempferi f. lineata (Duch.) Makino; Aristolochia kaempferi var. longifolia Franch. & Sav.; Aristolochia kaempferi f. longifolia (Franch. & Sav.) Makino; Aristolochia kaempferi f. mirabilis S.M.Hwang; Aristolochia kaempferi var. pallescens Nakai; Aristolochia lineata Duch.; Aristolochia
mollis Dunn; Aristolochia
neolongifolia J.L.Wu & Z.L.Yang; Hocquartia
kaempferi (Willd.) Nakai ex Honda; Isotrema
beterophylla (Hemsl.) Stapf; Isotrema
chrysops Stapf; Isotrema
heterophyllum (Hemsl.) Stapf; Isotrema
kaempferi (Willd.) H.Huber; Isotrema
lasiops Stapf
Đặc điểm thực
vật (Mô tả): Dây leo mảnh, thân mảnh, có lông mịn. Lá có phiến bầu dục
thuôn, dài 8 - 9cm, rộng 3cm, gốc hình tim có tai, hai mặt có lông mềm, hơi nâu
ở mặt trên, vàng ở mặt dưới, gân từ gốc 5; cuống 1,5cm. Hoa 1 - 2 ở nách lá; cuống
1,5cm.. Hoa có cuống dài, có lông; bầu có lông dày trắng, ống có ít hoa. Quả
nang, quả dài 5cm, rộng 1,5cm, nở thành, có nhiều hạt.; hạt dẹp, dài 12mm Cây ra
hoa tháng 5-6, có quả tháng 7-8.
Bộ phận dùng:
Rễ và hạt phơi hay sấy khô của cây mã đậu linh lá khác (Radix et Semen Aristolochiae Kaempferae),
thường gọi là Hán trung phòng kỷ.
Phân bố sinh
thái: Loài phân bố ở Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Ở nước ta đã phát hiện được
ở núi Lưỡi hái, huyện Thanh Sơn, tỉnh Vĩnh Phú. Cây sống ở ven suối đá cạn của
núi đất lẫn đá.
Thu hái chế
biến: Người ta thu hái rễ vào mùa xuân, rửa sạch, thái nhỏ phơi khô dùng. Hạt
lấy ở quả già.
Thành phần
hóa học: Rễ và thân có dẫn chất phenanthrene (aristoliukine-C,
aristofolin-E) và acid aristolochic-Ia methyl ester và one một sesquiterpene (madolin-P).
Tính vị, tác
dụng: Vị đắng, cay, tính hàn, có tác dụng lợi thuỷ tiêu thũng, khư phong chỉ
thống, giáng huyết áp.
Công dụng: Rễ
được dùng ở Trung Quốc để trị thuỷ thũng, lâm bệnh, tiểu tiện khó khăn, phong
thấp tê đau, cước khí thấp thũng, hạ bộ thấp sang ung thũng và cao huết áp. Quả
cũng được dùng như các loại mã đâu linh khác.
Liều dùng,
cách dùng: Ngày dùng 4-12g dạng thuốc sắc. Hạt được dùng trị bệnh đau dạ
dày.
Tài liệu dẫn:
Võ Văn Chi (2013), Từ điển cây thuốc Việt Nam Tập I,
Nhà xuất bản Y Học
Wu TS, Leu YL, Chan YY., Constituents from the stem
and root of Aristolochia kaempferi., Biol Pharm Bull. 2000 Oct;23(10):1216-9.The
Plant List 2013
FOC Vol. 5 Page 261
0 MÃ ĐẬU LINH-Aristolochia kwangsiensis-Chữa viêm dạ dày
Thời gian
MÃ ĐẬU LINH
Tên khác: Cây
khố rách, Mã đậu linh quảng tây, Mã đậu linh lá to, Đại diệp mã đậu linh, Viên
diệp mã đậu linh.
Tên khoa học:
Aristolochia kwangsiensis Chun
& F.C.How ex S.Yun Liang; thuộc họ Nam mộc hương (Aristolochiaceae).
Tên đồng
nghĩa: Aristolochia austroszechuanica
S.S.Chien & C.Y.Cheng ex C.Y.Cheng & J.L.Wu
Đặc điểm thực
vật (Mô tả): Cây sống nhiều năm, thân leo hoá gỗ, có rễ củ to. Thân non và
lá non có nhiều lông. Lá già chỉ có lông ở mặt dưới và ở gân mặt trên. Phiến lá
dạng trứng tròn: 23-34 x 22-32 cm; chóp lá tù, gốc lõm dạng tim; có 5 đôi gân
bên gần đối xứng nhau; gân mạng nổi rõ ở mặt dưới lá. Cụm hoa có 1-2 hoa ở nách
lá. Hoa có cuống; cả cuống và bao hoa cong hình chữ "S"; ống bao hoa
xanh nhạt, dài đến 7,5 cm, phần lớn nhất ở chỗ cong có đường kính khoảng 1,4
cm; các thuỳ của ống hình tam giác, mặt tím hồng, mặt trên có các gai nổi màu hồng
đậm; họng ống tròn, màu vàng. Nhị 6. Bầu 6 ô; vòi nhuỵ 6. Quả màu nâu vàng, gần
hình trụ tròn, dài 8-10 cm, có 6 cạnh lồi, đỉnh có đuôi dài khoảng 3mm. Hạt
hình trứng, màu nâu, cỡ 5 x 4 mm, mặt hơi lõm.
Sinh học và
sinh thái: Cây ra hoa vào tháng 5, mùa quả tháng 6-9. Cây tái sinh chồi ở
thân vào mùa xuân. Chưa rõ khả năng trồng bằng hạt. Cây ưa sáng và có thể chịu
bóng; mọc rải rác trên đất lẫn đá, ở rừng thứ sinh, thưa, ở độ cao tới 1000 m.
Phân bố: Loài
của Nam Trung Quốc và Việt Nam. Ở nước ta cây mọc hoang ở rừng núi, phát hiện ở
Lạng Sơn và Hà Giang (Mèo Vạc).
Bộ phận dùng:
Rễ đã phơi hay sấy khô của Cây khố rách (Radix Aristolochiae Kwangsiensis);
thường gọi là Mã đậu linh.
Thu hái: Rễ
và mùa thu, dùng tươi hay phơi khô.
Thành phần
hóa học: Trong rễ có allantoin, acid aristolochic A, β-sitosterol,
6-methoxydenitroaristolochic acid methyl ester, 6-methoxyaristolochic acid A
methyl ester và magnoflorine.
Tính vị, tác
dụng: Rễ có mùi thơm, có tác dụng giải nhiệt giảm đau, sát trùng, cầm máu.
Công dụng: Chữa
viêm dạ dày, ruột, đau họng; dùng ngoài chữa vết thương và nhọt độc.
Liều dùng, cách dùng: Ngày dùng 4-6g dạng thuốc sắc. Dùng ngoài, giã rễ tươi đắp hoặc dùng rễ khô tán bột rắc.
Tình trạng: Loài
đã từng bị khai thác lấy nguyên liệu làm thuốc. Trong các điểm phân bố trước
đây, tại Thạch An (Cao Bằng) nay không còn tìm lại được. Khu phân bố chia cắt
xa nhau, bị tàn phá nghiêm trọng.
Phân hạng:
EN A1c,d
Biện pháp bảo
vệ: Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá "sẽ
nguy cấp" (V). Cần có kế hoạch điều tra, xác định điểm phân bố còn sót lại
để bảo vệ. Đồng thời đưa về trồng, nghiên cứu nhân giống để phát triển.
Tài liệu dẫn:
Sách đỏ Việt Nam (2007): 93; STCT: 560-561; TCDL,
6(4): 98; TCSH, 17(4-CĐ): 32.
Võ Văn Chi (2013), Từ điển cây thuốc Việt Nam Tập I,
Nhà xuất bản Y Học
Zhou FX, Liang PY, Qu CJ, Wen J (1981), Studies on
the chemical constituents of Aristolochia kwangsiensis Chun et How ex C F
Liang; Acta pharmaceutica Sinica 16:8 1981 Aug pg 638-40
The Plant List 2013
FOC Vol. 5 Page 262
0 MẠC TÂM-Hymenocardia punctata-Công dụng cách dùng
Thời gian
MẠC TÂM
Tên khác:
Quả dẹt, giây nô, dom phnom phneng, pnon puin.
Tên khoa học:
Hymenocardia punctata Wall. ex
Lindl.; thuộc họ thầu dầu (Euphorbiaceae).
Tên đồng nghĩa:
Hymenocardia laotica Gagnep.;
Hymenocardia wallichii Tul.; Hymenocardia wallichii var. dasycarpa Gagnep.; Hymenocardia wallichii var. dasycarpa
Gagnep.; Samaropyxis elliptica Miq.
Đặc điểm thực vật (Mô tả):
Cây nhỏ cao 1-3m; nhánh non có lông vàng. Lá có phiến bầu dục,
dài 5-6cm, rộng 3-3,5cm, không lông ở mặt trên, có lông hình khiên ở mặt dưới;
gân phụ 4 cặp; cuống 8-15mm, có lông vàng; lá kèm hình kim cao 2-3,5mm. Hoa đực
gắn thành bông; nhị 4-5, dính thành trụ nhị, có nhuỵ lép. Hoa cái thành chùm,
lá đài có lông hình khiên; không có cánh hoa; bầu không lông có 2 vòi nhuỵ dài.
Quả có 2 cánh; hột 2. Cây ra hoa quả tháng 3-5.
Bộ phận dùng:
Vỏ thân và quả phơi hay sấy khô của cây Mạc tâm (Cortex et Fructus Hymenocardiae).
Thành phần hóa học:
Phenol (wallinol), squalene, stigmasterol, homopterocarpin, triterpenes, dẫn chất benzaldehyde, dẫn chất
cinnamyl derivatives, coumarin và monoglyceride
Phân bố sinh thái:
Cây mọc ở đất ẩm, dựa nước ở các tỉnh phía nam và Ðồng Nai, Sông Bé đến
Ðồng Tháp, An Giang.
Công dụng, cách dùng:
Vỏ thân cây Mặc tâm dùng chữa
kiết lỵ dưới dạng thuốc sắc nước, quả Mặc tâm dung ngoài để rửa vết thương.
Tài liệu tham khảo
Võ Văn Chi (2013), Từ điển cây thuốc Việt Nam Tập I, Nhà xuất bản Y Học
The Plant List 2013
A new phenolic compound from the stem of
Hymenocardia wallichii; Journal of Asian Natural Products Research; Volume 14,
Issue 5, 2012
0 MẮC COỌC-Pyrus pashia-công dụng cách dùng
Thời gian
MẮC COỌC
Tên khác:
Lê
rừng
Tên khoa học:
Pyrus pashia Buchanan-Hamilton ex
D. Don; thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae).
Tên đồng nghĩa:
Aria crenata (D.Don)
Decne.; Cormus crenata (D.Don)
Koehne; Malus pashia (Buch.-Ham. ex
Don) Wenz.; Pyrus crenata D.Don; Pyrus nepalensis hort. ex Decne.; Pyrus pashia var. pashia; Pyrus variolosa
Wall. ex G.Don; Pyrus verruculosa
Bertol.; Sorbus variolosa (Wall. ex
G.Don) S.Schauer
Tên tiếng anh (English name):
Wild pear
Đặc điểm thực vật (Mô tả):
Cây nhỡ cao tới 12m đầu cành non có gai. Lá hình bầu dục mũi
mác, đầu nhọn, mép có răng tù, dài 4-7cm, rộng 2-5cm; lúc còn non lá có lông ở
mặt dưới, sau nhẵn; cuống lá có rãnh ở mặt trên, lá kèm hình chỉ, sớm rụng. Hoa
họp thành chuỳ ở nách hay ở ngọn, phủ nhiều lông óng ánh; cánh hoa màu trắng,
lá bắc màu nâu. Quả mọng hình cầu, có mụn nhỏ, màu xám hoặc trắng nhạt, có 3-5
ô, mỗi ô chứa một noãn. Quả tương tự như quả Lê nhưng thường nhỏ hơn. Cây ra hoa
tháng 2-4, quả tháng 11-12.
Bộ phận dùng:
Quả và vỏ rễ phơi hay sấy khô của cây Mắc coọc (Fructus et Cortex Radicis
Pyri Pashiae).
Phân bố sinh thái:
Loài phân bố ở Ấn Ðộ, Mianma,
Nam Trung Quốc và Việt Nam. Ở nước ta cây mọc ở Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn,
Hoà Bình... trong rừng thưa hay các rú bụi ở độ cao giữa 600m-3000m, thường ở
trên đất nghèo, có khi trên đất ngập. Lá rụng vào mùa đông.
Thành phần hóa học:
Trong quả có 62.0% nước; chất sơ 31%; acid hữu cơ 0.97%; đường
6.85 %; đường khử 6.79 %; đường không khử 0.04 %; tannins 0.42 %; pectin và
vitamin C, 1.22 mg trong 100 g quả.
Tính vị, tác dụng:
Quả có vị chua, hơi ngọt và hơi chát, có tác dụng thanh nhiệt, giải
khát, sinh tân dịch, mát phổi. Vỏ rễ có vị chua chát, tính hàn, có tác dụng giải
độc, làm hết ngứa.
Công dụng, cách dùng:
Quả chín ăn được, dùng để chữa ho, long đờm. Ðể chữa uất
trong, buồn bực ở lồng ngực, giã nát ép lấy nước uống; để chữa bệnh lỵ mới
phát; dùng quả nướng ăn; Vỏ rễ chữa lở sần da (lở chàm) cạo lấy lớp vỏ trắng
giã nhỏ, hoà với giấm, dùng vải gói lại mà tẩm xát vào chỗ đau, chỗ lở.
THAM KHẢO
Võ Văn Chi (2013), Từ điển cây thuốc Việt Nam Tập I, Nhà xuất bản Y Học
The Plant List 2013
FOC Vol. 9 Page 178
1 MẮC MÁT-Passiflora edulis-Công dụng cách dùng
MẮC MÁT
Tên khác:
Lạc tiên, Lạc tiên trứng, Chùm bao trứng.
Tên khoa học:
Passiflora
edulis Sims; thuộc họ Lạc tiên (Passifloraceae).
Tên đồng nghĩa:
Passiflora edulis f. edulis; Passiflora
edulis var. pomifera (M. Roem.) Mast.; Passiflora edulis var. rubricaulis
(Jacq.) Mast.; Passiflora gratissima
A. St.-Hil.; Passiflora incarnata L.;
Passiflora iodocarpa Barb. Rodr.; Passiflora middletoniana J. Paxton; Passiflora pallidiflora Bertol.; Passiflora
picroderma Barb. Rodr.; Passiflora pomifera M. Roem.; Passiflora rigidula J.
Jacq.; Passiflora rubricaulis Jacq.; Passiflora vernicosa Barb. Rodr.
Tên nước ngoài:
Passionfruit, Granadilla (South America (In Costa Rica Granadilla is
a copmpletely different fruit) , Parchita (Venezuela), Maracudja (French
Guiana), Lilikoi (Hawaiian)
Đặc điểm thực vật (Mô tả):
Dây leo mảnh, dài hàng chục mét.
Thân mềm, hình trụ, có rãnh dọc, nhiều lông thưa. Lá mọc so le, chia 3 thuỳ nhẵn
bóng, mép khía răng, gốc lá hình tim có hai tuyến nhỏ, đầu nhọn, gân lá chẻ 3 từ
gốc; lá kèm nhọn hình sợi, tua cuốn mọc ở kẽ lá, dài hơn lá, đầu cuộn lại như
lò xo. Hoa mọc riêng lẻ ở kẽ lá, có cuống dài, màu trắng; không có tổng bao;
đài 5 lá màu xanh lục; tràng 5 cánh ròi nhau, xếp xen kẽ với các lá đài, có một
vòng tua gồm rất nhiều phần phụ hình sợi chỉ (tràng phụ) loan xoăn, phần giữa
màu tun; nhị 5 mọc ở ngọn cuống nhị nhuỵ, chỉ nhị nằm ngang, bao phấn màu vàng;
bầu thượng hình cầu, lô. Quả mọng, hình trứng, khi chín màu da cam; hạt nhiều
có áo bao bọc. Mùa hoa quả: tháng 3-5
Bộ phận dùng:
Ðọt cây Mắc mát phơi hay sấy khô (Ramulus Passiflorae Edulae).
Phân bố sinh thái:
Cây có nguồn gốc ở Phi châu, được nhập trồng ở Hà Nội và Ðà Lạt.
Thành phần hoá học:
Cây chứa 0,025-0,032% alkaloid toàn phần, trong đó có harmaline,
harmol, harmalol, harmine. Chưng cất phân đoạn steroid chứa 13% sitosterol,
stigmasteroi, n-nonacosane. Có các flavone-C-glucosid bao gồm saponarin,
vitexin, saponaretin, orintine, luteolin, 6-C-beta-D-glucopyranoside, luteolin
6-C-beta-D-chinovoside, luteolin 6-C-beta-L-fucoside, apigenin
8-C-beta-D-glucopyranoside,
apigenin-6-C-beta-D-glucopyrano-4'-O-alpha-L-rhamnopyranoside (5), 5,8-epidioxyergosta-6,
22-dien-3ol.
Quả dây mát loại tía cho 49,6% vỏ
quả, 36,8% dịch quả và 13,6% phần còn lại.
Quả dây mát loài vàng cho 61,9% vỏ
quả, 30,9% dịch quả và 7,4% phần còn lại.
Vỏ quả của loại tía chứa nhiều
pectin 1,5-2,5% (lính theo vỏ quả tươi) và 9-15% Ca pectat (tính theo vỏ quả
khô). Nếu đem thuỷ phân, pectin này cho acid D-galacturonic, L-arabinose và
galactose.
Vỏ quả dây mát chứa protein thô
2,04-2,84%, chất chiết bằng ether (mỡ) 0,05-0,16%, tinh bột thô 0,75- 1,36%, chất
xơ thô 4,57-7,13%, p 0,03-0,06%, Si 0,01-0,04%, K 0,6-0,78%, vitamin c 78,3-
166,2mg/100g, 1,64% đường (sucrose, glucose và fructose), acid hữu cơ 0,15%
(acid citric, acid malic), chất làm săn da (chủ yếu là tanin) 2,98%. vỏ quả loại
tía có pelargonidin 3-diglucosid 1,4mg/100g.
Phần ruột của quá chứa cyanidin
9-glucosid 97%, cyanidin 3-(6"-malonyl glucosid) 2% và pelargonidin 3-glucosid
1% .
Dịch quả loại tía chứa vitamin c
70mg/100g, acid dehydroscorbic, carotenoid (chủ yếu là β-caroten), tinh dầu,
acid amin.
Tinh dầu quả loại vàng chứa
n-hexyl caproat 70%, n-hexyl butyrat 13,4%, ethyl caproat 11%, n-hexyl butyrat
13,4%, ethyl butyrat 0,95%.
Theo Chassagne David và cs 1996,
các tiền chất tạo hương của quả dây mát là 6-O- α - arabinopyranosyl-β-D-
glucopyranosid của linalol, alcol benzylic và 3 - methyl - but - 2 - en - 1.
Các acid amin trong dịch quả loại
tía là leucin, valin, tyrosin, prolin, threoĩiin, glycin, acid aspartic,
arginin và ly sin.
Hạt chiếm 1-22% so với quả loại
tía; 2,4-12,4% so với quả loại vàng.
Hạt của quả loại tía chứa tới 19%
dầu béo. Các acid béo là acid palmitic 6,78%, acid stearic 1,76%, acid
arachidic 0,34%, acid oleic 19,0%, acid linoleic 59,9%, acid linolenic 5,4%.
Theo A.M. Gurnak (1992), 100g phần
thịt của quả chứa 69-80g nước, protein 2,3g, mở 2,0g, carbohydrat 16g, chất xơ
3,5g, Ca 10mg, Fe 1,0mg, vitamin A 20 đơn vị quốc tế, vitamin Bi vết,
riboflavin 0,1 mg, nicotinamid l,5mg và vitamin C 20mg.
Theo một số tài liệu khác, dây
mát chứa các alcaloid (haraian, harmin, harmol, harmalin); các isolavonoid (apigenin, luteolin) và triterpen
glycosid (passiflorin = (22R), (24S-22,31-epoxy-24-methyl- 1α, 3β, 31 tetraoxy-9,10-cyclo-9β-
lanostan - 28 oic acid-β-O-glucosyl ester).
Dịch chiết hạt có chứa một lượng
lớn piceatannol, có tác dụng ức chế melanogenesis và thúc đẩy sự tổng hợp
collagen
Tính vị, tác dụng:
Có tác dụng an thần, gây mê, làm dịu gây buồn ngủ, chống co thắt, còn
có tác dụng hạ huyết áp giảm co bóp mạnh của cơ trơn và tử cung.
Công dụng, cách dùng:
Là cây thuốc dân gian ở nhiều nơi dùng chữa đau bụng, ỉa chảy, lỵ,
thống kinh, bại liệt, phát ban, mất ngủ, nhiễm độc morphine, đau dây thần kinh,
đau mắt, trĩ, co thắt. Trong y học người ta dùng chữa những trường hợp hồi hộp,
mất ngủ, động kinh suy nhược thần kinh.
Quả chín ăn được dùng làm đồ
tráng miệng sau bữa ăn. Theo tài liệu nước ngoài, thịt quả dây mát được dùng
làm thuốc bổ, kích thích thần kinh. Thịt quả và dịch ép từ quả được coi là có
giá trị dinh dưỡng cao dùng để pha chế đồ uống, làm đồ hộp, bánh kẹo, kem.
Ngoài ra cơm quả dùng làm sinh tố. Hạt có thể ép dầu
để làm dầu ăn hoặc dùng trong kỹ nghệ sơn và verni, hoa làm cảnh. Hoa được coi là quốc hoa của
Paraguay.
Dạng dùng: Thường dùng dưới dạng cồn thuốc tươi, cao
lỏng hay cồn thuốc.
THAM KHẢO
Viện dược liệu (2004), “Cây thuốc
và động vật làm thuốc ở Việt Nam”, tập I, Nhà xuất bản khoa hoc kỹ thuật, tr.
652-653
Võ Văn Chi (2013), Từ điển cây thuốc Việt Nam Tập I, Nhà xuất bản Y Học
The Plant List 2013
Matsui Y, Sugiyama K, Kamei M,
Takahashi T, Suzuki T, Katagata Y, Ito T. (2010), Extract of passion fruit
(Passiflora edulis) seed containing high amounts of piceatannol inhibits
melanogenesis and promotes collagen synthesis, J. Agric Food Chem; 58(20):11112-8
0 MẠCH MÔN-Ophiopogon japonicus-cây thuốc chữa chữa ho khan
Thời gian
MẠCH MÔN
Tên khác:
Tóc tiên, Lan tiên, Xà thảo, Duyên giới thảo, Mạch môn đông, Phiéc kép phạ
(Tày).
Tên khoa học:
Ophiopogon japonicus (Linnaeus f.)
Ker Gawler, Bot. Mag. 27: t. 1063. 1807.; thuộc họ Hoàng tinh (Convallariaceae).
Tên đồng nghĩa:
Convallaria japonica
Linnaeus f., Suppl. Pl. 204. 1782; Anemarrhena
cavaleriei H. Léveillé, nom. illeg. (included Ophiopogon stolonifer); C.
japonica var. minor Thunberg; Flueggea japonica (Linnaeus f.) Richard; Mondo japonicum (Linnaeus f.) Farwell;
M. stolonifer (H. Léveillé &
Vaniot) Farwell; O. argyi H.
Léveillé; O. chekiangensis Koiti
Kimura & Migo; O. stolonifer H.
Léveillé & Vaniot; Slateria japonica
(Linnaeus f.) Desvaux.
Đặc điểm thực vật (Mô tả):
Cây thảo sống dai nhờ thân rễ ngắn. Lá mọc chụm ở đất, dẹp, xốp
làm 2 dãy. Hoa mọc thành chùm nằm trên một cánh hoa trần dài 10-20cm, Hoa nhỏ
màu lơ sáng, có cuống ngắn, xếp 1-3 cái một ở nách các lá bắc màu trắng. Bao
hoa 6 mảnh, rời hay dính ở gốc. Nhị 6, bao phấn mở dọc. Bầu 3 ô, một vòi nhuỵ với
3 đầu nhuỵ. Quả mọng màu tím, chứa 1-2 hạt. Cây ra hoa tháng 5-8, quả tháng
7-9.
Bộ phận dùng:
Rễ (củ) phơi hay sấy khô của cây Mạch môn (Radix Ophiopogonis japonici), thường
gọi là Mạch đông.
Phân bố sinh thái:
Cây của vùng Ðông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Cây thường mọc
trong rừng, bụi rậm rạp trong khe núi, những nơi ẩm ướt và bóng mát trên sườn
núi và ven suối, vách đá; độ cao từ 200-2800 m so với mực nước biển.
Trồng trọt:
Cây được trồng làm bờ các bồn
hoa ở nơi mát và có bóng râm. Trồng bằng gốc có rễ vào mùa xuân.
Thu hái, chế biến:
Thu hái rễ vào mùa thu. Ðào rễ củ già, rửa sạch đất cát, cắt bỏ rễ nhỏ
ở hai đầu củ. Củ nhỏ để nguyên, củ to có thể bổ đôi theo chiều dọc, rồi phơi
hay sấy nhẹ đến khô. Khi dùng, ủ mềm, bỏ lõi. Củ thường có hình thoi dài 1-4cm,
màu vàng.
Thành phần hoá học:
Rễ củ Mạch môn có các chất:
Saponin steroid: ophiopogonin A, B, C, D.
ophiopogonin A, B và D khi thủy phân cho phần aglycon là ruscogenin. Cấu trúc của
ophiopogonin B và D đã được xác định. Mạch đường đặc biệt được nối vào OH ở C1.
Carbohydrat gồm có một số glucofructan và một số
monosaccharid: glucose, fructose và saccharose.
Các β-sitosterol, stigmasterol và β-sitosterol
β-D-glucosid.
Tính vị, tác dụng:
Mạch môn có vị ngọt, hơi đắng, tính hơi lạnh; có tác dụng dưỡng âm
sinh tán, nhuận phế thanh hoả, trừ phiền nhiệt, chỉ khái huyết.
Công dụng:
Chữa ho khan, tân dịch thương tổn, khát nước, ho
lao, sốt, khát nước, tâm bứt rứt mất ngủ, nội nhiệt tiêu khát, trường ráo táo
bón, thổ huyết, chảy máu cam, lợi tiêu hoá, trị táo bón, lợi sữa cho đàn bà đẻ
nuôi con. Còn dùng làm thuốc cầm máu chữa thổ huyết, ho ra máu, chảy máu cam.
Liều dùng, cách dùng:
Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc. Dùng riêng hay phối hợp với Rẻ
quạt, lá hẹ, hoa Ðu đủ đực, Húng chanh để trị ho.
Bài thuốc:
1. Chữa choáng
do các nguyên nhân khác nhau. Các bệnh về tim như: rối loạn nhịp tim, mạch
vành, đau thắt ngực: Dùng bài Sinh mạch tán gồm Mạch môn 9-15g, Nhân sâm
6-9 g, Ngũ vị tử 6-9 g. Thuốc uống: Dạng
chè thuốc, thuốc sắc. Thuôc tiêm: tiêm bắp,
truyền tĩnh mạch.
2. Chữa mai hạch
khí (Loạn cảm họng, luôn phải khạc như có hạt mơ: gồm Mạch môn 12g, Sa sâm 12g,
Sinh địa 12g, Thạch hộc12g, Đan sâm 8g, Ngưu tất 8g, Hậu phác 8g, Qua lâu nhân 8g.
Sắc nước 3 lần. Cô lại còn 300ml. Chia làm 4 lần uống. Cách dùng , Ngậm thuốc rồi
nuốt từ từ .
3. Giảm ho mát
phổi, Chữa các chứng ho khan, hỗ trợ điều trị lao phổi: Mạch môn bỏ lõi sao
khô 15g thái mỏng, Cam thảo đất 15g, Vỏ quýt 3 năm cạo hết lớp trắng thái nhỏ,
sao khô 10g, Rễ củ rẻ quạt chế (ngâm nước Vo gạo 3 lần) 5g. Sắc 3 lần với 500ml. Cô nước sắc lấy
100ml . Thêm đường đủ ngọt. Chia làm 3 lần uống trong ngày.
4. Chữa ho trẻ
em: Mạch môn bỏ lõi sao khô 10g, Cát cánh 10g, Sa sâm 10g, Sắc 3 lần với
500ml. Cô lại còn 100ml. Thêm đường đủ ngọt chia làm 4 lần uống trong 24 giờ.
Trẻ dưới 6 tuổi uống 1/2 liều trên .
5. Chữa lao phổi, viêm phế quản mạn tính, viêm họng
mạn, có hội chứng phế âm hư ho kéo dài, ho khan dùng bài: Mạch môn đông thang
(Kim quỹ yếu lược): Mạch môn 20g, Bán hạ chế 6g, Đảng sâm 12g, Cam thảo 4g,
Cánh mễ 20g, Đại táo 4 quả, sắc uống. Hoặc bài Mạch vị Đại hoàng hoàn (Bát tiên
trường thọ hoàn): 8 - 10g x 2 lần/ngày.
6. Chữa bệnh
nhiễm thời kỳ hồi phục, đại tiện táo bón, hư nhiệt, phiền khát dùng bài: Dưỡng
chính thang: Mạch môn 12g, Ngọc trúc 20g, Hà thủ ô 16g, Đương qui 12g, Thục địa
16g, Sinh địa 12g, Hoài sơn 16g, Phục linh 8g, Nữ trinh tử 12g, Thiên hoa phấn
8g, Bạch thược 8g, Chích thảo 4g, sắc uống.
7. Chữa suy
tim có chứng hư thóat ra mồ hôi nhiều, mạch nhanh huyết áp hạ dùng bài: Sinh
mạch tán: Mạch môn 16g, Nhân sâm hoặc Đảng sâm (lượng gấp đôi) 8g, Ngũ vị tử
6g, sắc uống, để bổ khí âm. Hoặc trường hợp ra mồ hôi nhiều, bứt rứt khó chịu,
dùng bài: Mạch môn 20g, Hoàng kỳ 8g, Đương qui 8g, Ngũ vị tử 4g, Chích thảo 4g,
sắc uống.
8. Chữa táo
bón do âm hư: dùng bài Tăng dịch thang: Mạch môn đông 20g, Sinh địa 20g,
Huyền sâm 12g, sắc uống.
9. Chữa tim hồi
hộp, miệng khát: Mạch môn 8g, búp Tre khô 10g, Huyền sâm 12g, Sinh địa 15g,
Đan sâm 10g, Liên kiều 10g, Hoàng liên 3g cho vào sắc lấy nước, Thủy ngưu giác
mài với rượu nhẹ, đun cho bay hơi rượu rồi pha với nước sắc ở trên để uống sẽ
có tác dụng tĩnh tâm an thần.
Kiêng kị:
Người tỳ vị hư yếu, ăn uống chậm tiêu, ỉa chảy không dùng.
Ghi chú:
Tránh
nhầm lẫn, dễ nhầm với cây Tóc tiên. Tóc tiên lá dải nhỏ và mềm hơn.
0 MẠC CA RĂNG-Allophylus serrulatus-công dụng cách dùng
Thời gian
MẠC CA RĂNG
Tên khác:
Ngoại mộc răng nhỏ, Ngoại mộc có răng.
Tên khoa học:
Allophylus serrulatus Radlk.; thuộc họ
Bồ hòn (Sapindaceae).
Tên đồng nghĩa:
Allophylus cobbe (L.)
Raeusch.
Đặc điểm thực vật (Mô tả):
Cây gỗ nhỏ cao 1-1,5 m nhánh non, cuống và cụm hoa có lông
dày, vàng. Lá có 3 lá chét, có cuống chung gần bằng chiều dài của phiến lá, lá
chét có phiến xoan dài 5-13cm, mỏng, có lông ở gân mặt dưới, mép có răng ở nửa
trên; lá chét giữa thon ngược. Chùm hoa dài 7-10cm, không lông, hoa nhỏ, cánh
hoa 4, cao 2mm, nhị 8. Quả hạch, hình cầu. Cây ra hoa vào tháng 10.
Bộ phận dùng:
Rễ phơi hay sấy khô của cây Mặc ca răng (Radix Allophyli).
Phân bố sinh thái:
Loài phân bố từ Ấn Ðộ tới
Campuchia và Nam Việt Nam. Ở Việt Nam, có gặp ở rừng vùng Ðà Lạt, tỉnh Lâm Ðồng.
Tính vị, tác dụng:
Rễ có vị chát; có tác dụng thu liễm.
Thành phần hóa học:
Trong lá có terpenoid và saponin.
Công dụng, cách dùng:
Ở Campuchia quả thường được dùng ăn, nhưng ít được
ưa chuộng, rễ hãm nước làm thức uống khai vị.
Ở Ấn Ðộ, rễ
dùng nấu hay sắc uống để cầm ỉa chảy.
0 MẠC CA-Allophylus dimorphus-chữa khí hư bạch đới
Thời gian
MẠC CA
Tên khác:
Mác cá, Diếp cá rừng, Mắc cá dị hình, Mác cá, Diệp ca rừng.
Tên khoa học:
Allophylus dimorphus Radlkofer, Actes
Congrès Int. Bot., Amsterdam. 1877: 126. 1879.; thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae).
Đặc điểm thực vật (Mô tả):
Cây nhỏ cao đến 4cm, nhánh non có lông vàng. Lá do 3-5 lá chét
có phiến thon, dài 4-6,5cm, rộng 1,7cm, cuống phụ rất ngắn, mặt dưới có lông
như nhung, mặt trên có lông, cuống chung dài 4-8cm, có lông vàng. Chùm hoa dài
bằng hai lần cuống, có lông; hoa nhỏ, lá đài 4; có lông, cánh hoa 4, cao 1mm,
màu trắng, có vẩy có lông.
Bộ phận dùng:
Cành lá phơi khô của cây Mạc ca (Ramulus Allophyli).
Thành phần hóa học:
Chưa tìm thấy tài liệu công bố.
Phân bố sinh thái:
Loài phân bố ở Việt Nam và
Philippin. Ở Việt Nam cũng mới chỉ gặp ở Khánh Hoà (Nha Trang).
Công dụng, cách dùng:
Cành lá sắc uống chữa bạch đới, khí hư, cảm sốt. Quả ăn được.
0 CÂY MÀ-Vitex glabrata-công dụng cách dùng
Thời gian
MÀ
Tên khác:
Chàng ba, Đẻn nhẵn.
Tên khoa học:
Vitex glabrata R.Br.; thuộc họ Cỏ roi
ngựa (Verbenaceae).
Tên đồng nghĩa:
Vitex bombacifolia Wall.
ex C.B.Clarke; Vitex cunninghamii
Schauer; Vitex elegans Griff.; Vitex
glabrata f. bombacifolia (Wall. ex C.B.Clarke) Moldenke; Vitex glabrata var. bombacifolia (Wall. ex C.B.Clarke) Moldenke; Vitex glabrata f. pallida (Wall. ex C.B.Clarke) Moldenke; Vitex glabrata var. poilanei Moldenke; Vitex
helogiton K.Schum.; Vitex minahassae
Koord.; Vitex nitida Merr.; Vitex pallida Wall. ex C.B.Clarke; Vitex pentaphylla Merr.
Đặc điểm thực vật (Mô tả):
Cây gỗ cao 10-12m; nhánh non hơi vuông, màu nâu nhạt, có lông,
về sau nhẵn. Lá có 3-5 lá chét từ tròn đến bầu dục, mỏng, lúc non có lông xám ở
hai mặt, lúc già cứng, không lông, bóng, cuống không có cánh. Cụm hoa là xim dạng
ngù lưỡng phân ở nách lá, ít hoa. Hoa trắng vàng vàng, môi hồng hay tim tím,
dài 13-14mm, đài 5 răng, tràng có lông ở ngoài và nơi đỉnh của nhị. Quả hạch
hình trứng nhẵn, dài 1-1,8cm, rộng 1cm, bao bởi đài hoa rộng ra ở gốc.
Bộ phận dùng:
Vỏ, rễ phơi hay sấy khô của cây Mà (Cortex Radix Viticis).
Phân bố sinh thái:
Loài phân bố ở Ấn Ðộ, Lào, Campuchia, Malaysia, Indonesia và Việt
Nam. Ở Việt Nam, cây mọc nhiều ở các tỉnh từ Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam-Ðà Nẵng
đến Sông Bé, Ðồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, cũng có khi được trồng làm bóng
mát ở các thành phố.
Thành phần hóa học:
Trong cây có Ecdysteroids.
Công dụng, cách dùng:
Ở Ấn Ðộ, người
ta dùng vỏ và rễ làm thuốc thu liễm.
Ở Campuchia người ta khai thác vỏ để ăn trầu, còn
dùng để chữa bệnh chóng mặt, nhức đầu.
0 CÂY MÙI
CÂY MÙI
Fructus Coriandri
Tên khác: Hồ tuy, Nguyên tuy.
Tên khoa học: Coriandrum sativum L., họ Cần (Apiaceae).
Mô tả: Dạng thảo nhỏ mọc hằng năm, cao 20 đến 60 cm hay hơn, nhẵn, thân mảnh, lá bóng màu lục tươi; các lá ở dưới chia thành phiến hình trái xoan, có răng; các lá ở trên chia thành tua rất nhiều. Cụm hoa tán kép. Hoa màu trắng, ít khi màu hồng. Quả hình cầu màu vàng sẫm.
Phân bố: Cây được trồng khắp nơi làm rau, gia vị và làm thuốc.
Bộ phận dùng: Quả (Fructus Coriandri)
Thành phần hoá học : Quả mùi có tinh dầu (0,3 - 1,0% ), chất béo (13 - 20%), protein (16 - 18%), chất xơ (38%). Thành phần chủ yếu của tinh dầu là Linalol quay phải (70-90), còn gọi là Coriandrol. 5% D-pinen, limonen, tecpinen, mycxen, phelandren, một ít geraniol và bocneol. Trong lá thân cũng chứa trên dưới 1% tinh dầu.
Công dụng: Thúc đậu sởi mọc, làm thuốc giúp tiêu hoá.
Cách dùng, liều lượng: Lấy khoảng 50g quả giã nát, hoà vào một ít nước, vẩy lên người. Uống trong 4 - 8g/ngày
Bài thuốc:
1.Chữa bệnh sởi trẻ em: Chủ yếu lúc sởi mới mọc, sởi mọc không đều, hoặc sốt kéo dài mà sởi chưa mọc hoặc mọc quá ít, dùng cây rau mùi có tác dụng thúc sởi mọc nhanh và đều, tăng tuần hoàn ngoại vi làm cho độc sởi được phát ra ngoài, trạng thái nhiễm độc được giảm nhẹ.
-Dùng ngoài: Hạt rau mùi tươi (hoặc cả thân lá) 100 - 150g sắc nước sôi độ 5 phút, giã nát để sắc (không sắc lâu) đem xoa ấn vào tay chân và thân mình trẻ (theo thứ tự lưng trước bụng sau, trên trước dưới sau) không để trẻ bị lạnh. Hoặc dùng Hạt mùi 80g tán nhỏ trộn với rượu 100ml và nước 100ml đun sôi lọc bỏ bã phun vào người bệnh nhi trừ mặt (để nước thuốc hơi ấm mà dùng).
-Uống trong: Hạt mùi 12g sắc nuớc uống ấm trong ngày 1 - 2 lần.
2.Trị rối loạn tiêu hóa bụng đầy đau do thực tích: Dùng bài: Hồ tuy 8g, Đinh hương 4g, Quất bì 4g, Hoàng liên 4g, sắc nước uống.
3.Kinh nghiệm trị những chứng khác:
-Phụ nữ sau đẻ cạn sữa: Quả mùi 6g, nước 100ml, đun sôi 15 phút chia 2 lần uống trong ngày.
-Trị da mặt có những nốt đen: Quả mùi sắc nước rửa luôn, nốt đen sẽ mất dần.
-Trị lòi dom: Quả mùi đốt hun khói xông hâïu môn.
-Trị lãi kim: Hạt mùi tán mịn trộn với bột trứng gà luộc chín và dầu mè liên tục 3 ngày, mỗi ngày một lần trước lúc ngủ.
-Trị buồn nôn ợ hơi: dùng hạt Hồ tuy, hạt củ cải, mỗi thứ 40g, tán bột mịn trộn lẫn, mỗi lần uống 4 - 8g, ngày 2 lần.
-Phòng bệnh sởi: sắc nước rau mùi cho trẻ uống trong thời gian có tiếp xúc với trẻ mắc bệnh sởi trong 7 - 10 ngày.
Ghi chú: Không dùng thuốc lúc sởi đã mọc đều, thời kỳ toàn phát và hồi phục của bệnh sởi. Không dùng đối với bệnh nhiễm mồ hôi ra nhiều, cơ thể suy nhược, bệnh nhân có lóet dạ dày không dùng uống trong.
0 CÂY MỎ QUẠ
CÂY MỎ QUẠ
Tên khác: Hoàng lồ, Vàng lồ, Xuyên phá thạch.
Tên khoa học: Cudrania tricuspidata (Carr.) Bur, họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây nhỏ, thân mềm yếu, nhiều cành, tạo thành bụi, có khi mọc thành cây nhỡ, chịu khô hạn rất khỏe, có nhựa mủ trắng, rễ hình trụ có nhiều nhánh, mọc ngang, rất dài, nếu gặp đá có thể xuyên qua được (do đó có tên xuyên phá thạch có nghĩa là phá chui qua đá). Vỏ thân màu tro nâu, trên có nhiều bì khổng màu trắng, thân và cành có rất nhiều gai, gai già hơi cong xuống trông như mỏ con quạ (do đó có tên cây mỏ quạ). Lá mọc cách, hình trứng thuôn, hai đầu nhọn, mặt lá nhẵn, bóng, mép nguyên. Nhấm có vị tê tê ở lưỡi (đặc điểm). Cụm hoa hình cầu, đường kính 7-10mm, màu vàng nhạt, mọc thành đôi hay mọc đơn độc ở kẽ lá. Hoa đơn tính, đực cái khác gốc. Mùa hoa tại Hà Nội là tháng 4. Quả màu hồng họp thành quả kép. Mùa quả tháng 10-11.
Bộ phận dùng: Lá, rễ.
Phân bố: Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.
Thu hái: Thường dùng lá tươi, có khi hái cả cành về nhà mới bứt lá riêng. Còn dùng rễ, đào về rửa sạch đất, cắt thành từng mẩu 30-50cm, phơi hay sấy khô. Vỏ ngoài màu vàng đất, vết cắt màu vàng nhạt, vị hơi tê tê.
Thành phần hoá học : Flavonoid.
Công dụng: Chữa vết thương phần mềm.
Cách dùng, liều lượng:
Lá mỏ quạ tươi đã được dùng chữa vết thương phần mềm theo kinh nghiệm của cụ lang Long (Hải Dương) như sau: Chủ yếu dùng lá mỏ quạ tươi, rồi tùy theo vết thương, thêm một hai vị khác. Lá mỏ quạ tươi lấy về rửa sạch, bỏ cọng, giã nhỏ đắp vào vết thương. Nếu vết thương xuyên thủng thì phải đắp cả hai bên, băng lại. Mỗi ngày rửa và thay băng một lần. Thuốc rửa vết thương là lá trầu không nấu với nước (40g lá trầu, 2 lít nước, nấu sôi để nguội, thêm vào đó 8g phèn phi, hòa tan, lọc và dùng rửa vết thương). Sau 3-5 ngày đã đỡ, khi đó hai ngày mới cần rửa và thay băng một lần.
Trường hợp vết thương tiến triển tốt nhưng lâu đầy thịt thì thay thuốc sau: Lá mỏ quạ tươi và lá thòng bong, hai vị bằng nhau, giã lẫn cả hai thứ đắp lên vết thương, mỗi ngày rửa và thay băng một lần. 3-4 ngày sau lại thay thuốc sau: lá mỏ quạ tươi, lá thòng bong, lá hàn the (Desmodium heterophyllum DC.) ba thứ bằng nhau, cứ 3 ngày mới thay băng một lần để vết thương chóng lên da non.
Sau 2-3 lần thay băng bằng 3 vị trên thì rắc lên vết thương thuốc bột chế bằng phấn cây cau (sao khô) 20g, phấn cây chè (sao khô) 16g, ô long vĩ (bồ hóng) 8g, phèn phi 4g. Các vị tán mịn, trộn đều rắc lên vết thương rồi để yên cho vết thương đóng vẩy và róc thì thôi.
Rễ được dùng trong nhân dân ta và ở Trung Quốc (Quảng Tây) làm thuốc khứ phong, hoạt huyết phá ứ, chữa ứ tích lâu năm, bị đả thương, phụ nữ kinh bế. Ngày dùng 10-30g rễ dưới dạng thuốc sắc. Theo kinh nghiệm nhân dân, phụ nữ có thai không dùng được.




