MẠCH MÔN
Tên khác:
Tóc tiên, Lan tiên, Xà thảo, Duyên giới thảo, Mạch môn đông, Phiéc kép phạ
(Tày).
Tên khoa học:
Ophiopogon japonicus (Linnaeus f.)
Ker Gawler, Bot. Mag. 27: t. 1063. 1807.; thuộc họ Hoàng tinh (Convallariaceae).
Tên đồng nghĩa:
Convallaria japonica
Linnaeus f., Suppl. Pl. 204. 1782; Anemarrhena
cavaleriei H. Léveillé, nom. illeg. (included Ophiopogon stolonifer); C.
japonica var. minor Thunberg; Flueggea japonica (Linnaeus f.) Richard; Mondo japonicum (Linnaeus f.) Farwell;
M. stolonifer (H. Léveillé &
Vaniot) Farwell; O. argyi H.
Léveillé; O. chekiangensis Koiti
Kimura & Migo; O. stolonifer H.
Léveillé & Vaniot; Slateria japonica
(Linnaeus f.) Desvaux.
Đặc điểm thực vật (Mô tả):
Cây thảo sống dai nhờ thân rễ ngắn. Lá mọc chụm ở đất, dẹp, xốp
làm 2 dãy. Hoa mọc thành chùm nằm trên một cánh hoa trần dài 10-20cm, Hoa nhỏ
màu lơ sáng, có cuống ngắn, xếp 1-3 cái một ở nách các lá bắc màu trắng. Bao
hoa 6 mảnh, rời hay dính ở gốc. Nhị 6, bao phấn mở dọc. Bầu 3 ô, một vòi nhuỵ với
3 đầu nhuỵ. Quả mọng màu tím, chứa 1-2 hạt. Cây ra hoa tháng 5-8, quả tháng
7-9.
Bộ phận dùng:
Rễ (củ) phơi hay sấy khô của cây Mạch môn (Radix Ophiopogonis japonici), thường
gọi là Mạch đông.
Phân bố sinh thái:
Cây của vùng Ðông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Cây thường mọc
trong rừng, bụi rậm rạp trong khe núi, những nơi ẩm ướt và bóng mát trên sườn
núi và ven suối, vách đá; độ cao từ 200-2800 m so với mực nước biển.
Trồng trọt:
Cây được trồng làm bờ các bồn
hoa ở nơi mát và có bóng râm. Trồng bằng gốc có rễ vào mùa xuân.
Thu hái, chế biến:
Thu hái rễ vào mùa thu. Ðào rễ củ già, rửa sạch đất cát, cắt bỏ rễ nhỏ
ở hai đầu củ. Củ nhỏ để nguyên, củ to có thể bổ đôi theo chiều dọc, rồi phơi
hay sấy nhẹ đến khô. Khi dùng, ủ mềm, bỏ lõi. Củ thường có hình thoi dài 1-4cm,
màu vàng.
Thành phần hoá học:
Rễ củ Mạch môn có các chất:
Saponin steroid: ophiopogonin A, B, C, D.
ophiopogonin A, B và D khi thủy phân cho phần aglycon là ruscogenin. Cấu trúc của
ophiopogonin B và D đã được xác định. Mạch đường đặc biệt được nối vào OH ở C1.
Carbohydrat gồm có một số glucofructan và một số
monosaccharid: glucose, fructose và saccharose.
Các β-sitosterol, stigmasterol và β-sitosterol
β-D-glucosid.
Tính vị, tác dụng:
Mạch môn có vị ngọt, hơi đắng, tính hơi lạnh; có tác dụng dưỡng âm
sinh tán, nhuận phế thanh hoả, trừ phiền nhiệt, chỉ khái huyết.
Công dụng:
Chữa ho khan, tân dịch thương tổn, khát nước, ho
lao, sốt, khát nước, tâm bứt rứt mất ngủ, nội nhiệt tiêu khát, trường ráo táo
bón, thổ huyết, chảy máu cam, lợi tiêu hoá, trị táo bón, lợi sữa cho đàn bà đẻ
nuôi con. Còn dùng làm thuốc cầm máu chữa thổ huyết, ho ra máu, chảy máu cam.
Liều dùng, cách dùng:
Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc. Dùng riêng hay phối hợp với Rẻ
quạt, lá hẹ, hoa Ðu đủ đực, Húng chanh để trị ho.
Bài thuốc:
1. Chữa choáng
do các nguyên nhân khác nhau. Các bệnh về tim như: rối loạn nhịp tim, mạch
vành, đau thắt ngực: Dùng bài Sinh mạch tán gồm Mạch môn 9-15g, Nhân sâm
6-9 g, Ngũ vị tử 6-9 g. Thuốc uống: Dạng
chè thuốc, thuốc sắc. Thuôc tiêm: tiêm bắp,
truyền tĩnh mạch.
2. Chữa mai hạch
khí (Loạn cảm họng, luôn phải khạc như có hạt mơ: gồm Mạch môn 12g, Sa sâm 12g,
Sinh địa 12g, Thạch hộc12g, Đan sâm 8g, Ngưu tất 8g, Hậu phác 8g, Qua lâu nhân 8g.
Sắc nước 3 lần. Cô lại còn 300ml. Chia làm 4 lần uống. Cách dùng , Ngậm thuốc rồi
nuốt từ từ .
3. Giảm ho mát
phổi, Chữa các chứng ho khan, hỗ trợ điều trị lao phổi: Mạch môn bỏ lõi sao
khô 15g thái mỏng, Cam thảo đất 15g, Vỏ quýt 3 năm cạo hết lớp trắng thái nhỏ,
sao khô 10g, Rễ củ rẻ quạt chế (ngâm nước Vo gạo 3 lần) 5g. Sắc 3 lần với 500ml. Cô nước sắc lấy
100ml . Thêm đường đủ ngọt. Chia làm 3 lần uống trong ngày.
4. Chữa ho trẻ
em: Mạch môn bỏ lõi sao khô 10g, Cát cánh 10g, Sa sâm 10g, Sắc 3 lần với
500ml. Cô lại còn 100ml. Thêm đường đủ ngọt chia làm 4 lần uống trong 24 giờ.
Trẻ dưới 6 tuổi uống 1/2 liều trên .
5. Chữa lao phổi, viêm phế quản mạn tính, viêm họng
mạn, có hội chứng phế âm hư ho kéo dài, ho khan dùng bài: Mạch môn đông thang
(Kim quỹ yếu lược): Mạch môn 20g, Bán hạ chế 6g, Đảng sâm 12g, Cam thảo 4g,
Cánh mễ 20g, Đại táo 4 quả, sắc uống. Hoặc bài Mạch vị Đại hoàng hoàn (Bát tiên
trường thọ hoàn): 8 - 10g x 2 lần/ngày.
6. Chữa bệnh
nhiễm thời kỳ hồi phục, đại tiện táo bón, hư nhiệt, phiền khát dùng bài: Dưỡng
chính thang: Mạch môn 12g, Ngọc trúc 20g, Hà thủ ô 16g, Đương qui 12g, Thục địa
16g, Sinh địa 12g, Hoài sơn 16g, Phục linh 8g, Nữ trinh tử 12g, Thiên hoa phấn
8g, Bạch thược 8g, Chích thảo 4g, sắc uống.
7. Chữa suy
tim có chứng hư thóat ra mồ hôi nhiều, mạch nhanh huyết áp hạ dùng bài: Sinh
mạch tán: Mạch môn 16g, Nhân sâm hoặc Đảng sâm (lượng gấp đôi) 8g, Ngũ vị tử
6g, sắc uống, để bổ khí âm. Hoặc trường hợp ra mồ hôi nhiều, bứt rứt khó chịu,
dùng bài: Mạch môn 20g, Hoàng kỳ 8g, Đương qui 8g, Ngũ vị tử 4g, Chích thảo 4g,
sắc uống.
8. Chữa táo
bón do âm hư: dùng bài Tăng dịch thang: Mạch môn đông 20g, Sinh địa 20g,
Huyền sâm 12g, sắc uống.
9. Chữa tim hồi
hộp, miệng khát: Mạch môn 8g, búp Tre khô 10g, Huyền sâm 12g, Sinh địa 15g,
Đan sâm 10g, Liên kiều 10g, Hoàng liên 3g cho vào sắc lấy nước, Thủy ngưu giác
mài với rượu nhẹ, đun cho bay hơi rượu rồi pha với nước sắc ở trên để uống sẽ
có tác dụng tĩnh tâm an thần.
Kiêng kị:
Người tỳ vị hư yếu, ăn uống chậm tiêu, ỉa chảy không dùng.
Ghi chú:
Tránh
nhầm lẫn, dễ nhầm với cây Tóc tiên. Tóc tiên lá dải nhỏ và mềm hơn.


Post a Comment