SƠ LƯỢC VỀ CÂY DƯỢC LIỆU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG
1. Khái niệm về cây dược liệu
Cây dược liệu là những loài thực vật có tác dụng dùng để chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể
khi con người sử dụng. Việc dùng thuốc trong nhân dân ta đã có từ lâu đời. Từ thời
nguyên thuỷ, tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức ăn, có khi ăn phải chất độc
phát sinh nôn mửa hoặc rối loạn tiêu hoá, hoặc hôn mê có khi chết ngư ời, do đó
cần có nhận thức phân biệt được loại nào ăn đư ợc, loại nào có độc không ăn được.
Kinh
nghiệm dần dần tích lũy, không những giúp cho loài người biết lợi dụng tính chất
của cây cỏ để làm thức ăn mà còn dùng để dùng làm thuốc chữa bệnh, hay dùng những
vị có chất độc để chế tên thuốc độc dùng trong săn bắn hay trong lúc tự vệ chống
ngoại xâm. Lịch sử nước ta cho biết ngay từ khi lập nước nhân dân ta đã biết chế
tạo và sử dụng tên độc để chống lại kẻ thù.
Như vậy,
việc phát minh ra thuốc đã có từ thời thượng cổ, trong quá trình đấu tranh với
thiên nhiên, tìm tòi thức ăn mà có được. Nguồn gốc tìm ra thức ăn, thuốc và cây
có chất độc chỉ là một. Về sau dần dần con ngư ời mới biết tổng kết và đặt ra
lý luận. Hiện nay đi sâu và tìm hiểu những kinh nghiệm trong nhân dân Việt Nam
cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới, con ngư ời đã sử dụng hàng vạn loài
thực vật để làm thuốc. Trong quá trình chữa bệnh bằng kinh nghiệm và hiểu biết
của con người, đến ngày nay đã hình thành các khuynh hướng khác nhau, chúng ta
có thể phân biệt hai loại ngư ời làm thuốc. Một loại chỉ có kinh nghiệm chữ a bệnh,
không biết hoặc ít biết lý luận. Kinh nghiệm đó cứ cha truyền con nối mà tồn tại,
mà phát huy. Những người có khuynh hướng này chiếm chủ yếu tại các vùng dân tộc
ít người. Khuynh hướng thứ hai là những người có kinh nghiệm và có thêm phần lí
luận, những ngư ời này chiếm chủ yếu ở thành thị và những người có cơ sở lí luận
cho rằng vị Thần Nông là người phát minh ra thuốc. Truyền thuyết kể rằng: “Một ngày
ông nếm 100 loài cây cỏ để tìm thuốc, ông đã gặp phải rất nhiều loài cây có độc
nên có khi một ngày ngộ độc đến 70 lần”, rồi soạn ra sách thuốc đầu tiên gọi là
“Thần Nông bản thảo”. Trong bộ này có ghi chép tất cả 365 vị thuốc và là bộ
sách thuốc cổ nhất Đông Y (chừng 4000 năm nay).
2. Cơ sở lý luận dùng cây dư ợc liệu làm thuốc
2.1. Cơ sở lý luậ n trong Đông y
Chúng
ta biết rằng hiện nay trong giới Đông y có những người chỉ biết một số đ ơn thuốc
gia truyền kinh nghiệm, nhưng lại có rất nhiều người trong khi điều trị tìm thuốc,
chế thuốc đều hay vận dụng những cơ sở lí luận rất đặc biệt của Đông y.
Lý luận
đó đúng sai thế nào, dần dần khoa học sẽ xác minh. Chỉ biết rằng hiện nay những
nhà đông y đã vận dụng lí luận ấy để chữa khỏi cho một số bệnh và phát hiện một
số thuốc mới. Cho nên chúng ta nên tìm hiẻu tiếng nói của những nhà Đông y để gần
gũi và học tập họ; để trên cơ sở những kinh nghiệm của họ chúng ta thừa kế và
phát huy theo khoa học hiện đại.
Điều
đáng chú ý là cơ sở lí luận của Đông y đã có từ lâu mà không thay đổi cho nên có
điều còn đúng, có điều đã sai. Vì vậy phải đánh giá một cách khách quan các lí
luận đó, không nên cái gì cũng cho là sai cả hay đúng cả.
Những
nhà Đông y coi người và hoàn cảnh là một khối thống nhất. Con người chẳng qua
cũng là cơ năng của trời đất thu nhỏ lại. Cơ sở lí luận của Đông y dựa vào quan
điểm vũ trụ chung trong triết học Á Đông thời xưa. Quan niệm về vũ trụ này bao
gồm nhiều ngành khoa học khác như khí tượng, tử vi, địa lý v.v...
Theo
quan điểm này vũ trụ từ khi mới sinh ra là một khối rất lớn gọi là thái cực: thái
cực biến hoá sinh ra hai nghi (lưỡng nghi) là âm và dương. Âm dương kết hợp với
nhau để sinh ra 5 hành là kim, mộc, thuỷ, hoả và thổ, đó là những thực thể luôn
tồn tại trên
Trái đất
và có liên quan mật thiết với con người, chúng chi phối con người hoặc bị con người
chi phối.
Ngũ hành
sẽ lại kết hợp với nhau để tạo ra 3 lực lượng bao trùm vũ trụ (tam tài) thiên,
địa, nhân. Trong mỗi lực lượng này lại có sự kết hợp chặt chẽ và cân bằng giữa
âm dương, ngũ hành. Nếu thiếu sự cân bằng giữa âm và dương trong mỗi lực lượng
hoặc thiếu sự cân bằng giữa 3 lực lượng đó người ta sẽ mắc bệnh. Việc điều trị
bệnh tật chẳng qua là thiết lập lại sự cân bằng âm dương trong con ngư ời, giữa
con người và trời đất.
2.1.1. Thuyết âm dương
Căn cứ
nhận xét lâu đời về tự nhiên, người xưa đã nhận xét thấy sự biến hoá không ngừng
của sự vật: Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh
bát quái. Lưỡng nghi là âm và dương; tứ tượng là thái âm, thái dương, thiếu âm
và thiếu dương. Bát quái là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn và đoài. Người
ta còn nhận thấy rằng cơ cấu của sự biến hoá không ngừng đó là ức chế lẫn nhau,
nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau.
Để biểu
thị sự biến hoá không ngừng và quy luật của sự biến hoá đó người xưa đặt ra
thuyết âm d ơng. Âm dương không phải là một thứ vật chất cụ thể nào, mà là thuộc
tính mâu thuẫn nằm trong tất cả mọi sự vật. Nó giải thích hiện tượng mâu thuẫn
chi phối mọi sự biến hoá và phát triển của sự vật.
Nói
chung, những cái gì có tính cách hoạt động, hưng phấn, tỏ rõ, hướng lên, tiến lên,
hữu hình, nóng nực, sáng chói, tích cực đều thuộc dương. Những cái gì trầm
tĩnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại, vô hình, lạnh lẽo, đen tối,
nhu nhược, tiêu cực đều thuộc âm. Từ những cái to lớn như trời, đất, mặt trời,
mặt trăng đến cái nhỏ như con sâu con bọ, cây cỏ... đều được quy vào âm dương.
Âm
dương tuy bao hàm ý nghĩa đối lập, mâu thuẫn nhưng còn bao hàm cả ý nghĩa nguồn
gốc từ nhau mà ra, hỗ trợ ức chế nhau mà tồn tại, không thể chỉ có âm hoặc chỉ
có dương. Người xưa thường nói âm ở trong để giữ gìn cho dương, dương ở ngoài để
giúp cho âm. Hoặc có âm mà không có dương, hay có dương mà không có âm thì tất
nhiên một mình âm không thể phát sinh được, một mình dương không thể trưởng
thành được. Lại có người nói: trong âm có âm dương, trong dương cũng có âm
dương, âm đến cực độ sinh ra dương, dương dến cực độ sinh ra âm tức là hàn đến
độ sinh ra nhiệt và ngược lại.
2.1.2. Thuyết ngũ hành.
Thuyết
ngũ hành về căn bản cũng là một cách biểu thị luật mâu thuẫn trong thuyết âm
dương, nhưng bổ sung vào làm cho thuyết âm dương hoàn bị hơn. Ngũ hành là kim, mộc,
thuỷ, hoả, thổ.
Người
xưa cho rằng mọi vật trong vũ trụ đều chỉ có 5 chất đó phối hợp với nhau mà tạo
nên.
Theo
tính chất thì:
Thuỷ là
lỏng, là nước thì đi xuống, thấm xuống.
Hoả là
lửa thì bùng cháy, bốc lên.
Mộc là
cây, là gỗ thì mọc lên cong hay thẳng.
Kim là
kim loại, thuận chiều theo hay đổi thay.
Thổ là
đất thì để trồng trọt, gây giống được.
Tinh
thần cơ bản của thuyết ngũ hành bao gồm hai phương diện giúp đỡ nhau gọi là tương
sinh và chống lại nhau gọi là tương khắc.
Trên
cơ sở sinh và khắc lại thêm hiện tượng chế hoá và tương thừa tương vũ biểu thị
mọi sự biến hoá phức tạp của sự vật.
Luật
tương sinh: Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để sinh trưởng. Đem ngũ hành
liên hệ với nhau thì thấy năm hành đó quan hệ xúc tiến lẫn nhau. Theo luật
tương sinh thì thuỷ sinh mộc, mộc sinh hoả, hoả sinh thổ, thổ sinh kim , kim
sinh thuỷ, thuỷ lại sinh mộc và cứ như vậy tiếp diễn mãi, thúc đẩy sự phát triển
m ãi không bao giờ ngừng.
Trong
luật tương sinh của ngũ hành còn bao hàm ý nghĩa nữa là hành nào cũng có quan hệ
về hai phương diện: cái sinh ra nó và cái nó sinh ra tức là quan hệ mẫu tử. Ví
dụ như là kim sinh thuỷ thì kim là mẹ của thuỷ, thuỷ lại sinh ra mộc vậy mộc là
con của thuỷ.
Trong
quan hệ tương sinh lại có quan hệ tương khắc để biểu hiện cái ý thăng bằng, giữ
gìn lẫn nhau.
Luật
tương khắc: Tương khắc có nghĩa là ức chế và thắng nhau. Trong quy luật tương
khắc thì mộc khắc thổ, thổ khắc thuỷ, thuỷ khắc hoả, hoả khắc kim, kim khắc mộc,
mộc lại khắc thổ và cứ như vậy tiếp diễn mãi.
Trong
tình trạng bình thường, sự tương khắc có tác dụng duy trì sự thăng bằng, nhưng
nếu tương khắc thái quá thì lại làm cho sự biến hoá trở ngại khác thường.
Trong
tương khắc, mỗi hành lại có hai quan hệ: Giữa cái thắng nó và cái nó thắng.
Ví dụ
hành mộc thì nó khắc thổ, nhưng nó lại bị kim khắïc nó.
Hiện
tượng tương khắc không tồn tại đơn độc; trong tương khắc đã có ngụ ý tương sinh,
do đó vạn vật tồn tại và phát triển.
Luật
chế hoá: Chế hoá là ức chế là sinh hoá phối hợp với nhau. Trong chế hoá bao gồm
cả hiện tượng tương sinh và tương khắc. Hai hiện tượng này gắn liền với nhau.
Lẽ tạo
hoá không thể không có sinh mà cũng không thể không có khắc. Không có sinh thì
không có đâu mà nảy nở; không có khắc thì phát triển quá độ sẽ có hại. Cần phải
có sinh trong khắc, có khắc trong sinh mới có vận hành liên tục, tương phản,
tương thành với nhau.
Qui luật
chế hoá ngũ hành là:
Mộc khắc
thổ, thổ sinh kim, kim khắc mộc.
Hoả khắc
kim, kim sinh thuỷ, thuỷ khắc hoả.
Thổ khắc
thuỷ, thuỷ sinh mộc, mộc khắc thổ.
Kim khắc
mộc, mộc sinh hoả, hoả khắc kim.
Thuỷ
khắc hoả, hoả sinh thổ, thổ khắc thuỷ.
Luật
chế hoá là một khâu trọng yếu trong thuyết ngũ hành. Nó biểu thị sự cân bằng tất
nhiên phải thấy trong vạn vật. Nếu có hiện tượng sinh khắc thái quá hoặc không
đủ thì sẽ xảy ra những sự biến hoá khác thường.
2.2. Cơ sở lý luận trong Tây y
Khi
xét tác dụng của một vị thuốc, khoa học hiện đại căn cứ chủ yếu vào thành phần
hoá học của vị thuốc, nghĩa là xem trong vị thuốc có nhữ ng chất gì tác dụng của
những chất đó trên cơ thể súc vật và người ra sao.
Hiện
nay, người ta biết rằng trong các vị thuốc có những chất có tác dụng chữa bệnh
đặc biệt của vị thuốc gọi là hoạt chất. Ngoài ra còn có những chất chung có ở
nhiều cây thuốc và vị thuốc khác gọi là những chất độn. Những chất độn không
đóng vai trò gì trong việc chữa bệnh. Tuy nhiên có một số chất độn chỉ có ở một
số vị thuốc nhất định.
Người
ta có thể dựa vào việc tìm chất độn để kết luận đó có phải là vị thuốc kết hợp
tương ứng hay không.
Các chất
chứa trong vị thuốc có thể chia thành hai nhóm chính: Nhóm chất vô cơ và nhóm
chất hữu cơ. Cả hai nhóm này đều gặp ở các vị thuốc động vật hay thực vật. Những
thuốc nguồn gốc khoáng vật chủ yếu chỉ chứa các chất thuộc nhóm vô cơ.
Nhữ ng
chất vô cơ không nhiều và ít phức tạp. Trái lại, các chất hữu c ơ có nhiều loại,
đồng thời tác dụng dược lý cũng rất phức tạp. Chúng ta biết rằng khoa học hiện
đại ngày nay chưa phân tích được hết các chất có trong cây hay động vật, do đó
nhiều khi cũng chưa giải thích được hết tác dụng của mọi thứ thuốc ông cha ta vẫn
dùng.
Việc
nghiên cứu và xét tác dụng chữa bệnh của một vị thuốc không dễ dàng, vì trong một
vị thuốc nhiều khi chứa nhiều hoạt chất có khi có tác dụng phối hợp, nhưng nhiều
khi lại có tác dụng trái ngược hẳn nhau. Thay đổi liều lượng nhiều khi cũng dẫn
đến những kết quả khác nhau. Trong Đông y lại dùng nhiều những vị thuốc phối hợp
với nhau cho nên không phải một chất tác dụng mà là nhiều chất ở nhiều vị thuốc
ảnh hưởng và tác dụng lẫn nhau làm cho việc nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị
lại càng khó.
Khi kết
quả nghiên cứu dư ợc lý phù hợp với kinh nghiệm nhân dân, ta có thể yên tâm sử
dụng những thuốc đó. Nhưng khi thí nghiệm một vị thuốc không thấy kết quả, ta chưa
thể kết luận vị thuốc đó không có tác dụng trên lâm sàng vì nhiều khi cơ thể
không hoàn toàn giống nhau. Cho nên chúng ta phải thấy trước giá trị những nghiên
cứu trong phòng thí nghiệm cần được xác nhận trên lâm sàng, mà những kinh nghiệm
chữa bệnh của ông cha ta thì có từ nghìn năm về trước, đã có những kết quả thực
tiễn. Ta phải tìm mọi cách để tìm ra cơ sở khoa học hiện đại của chúng.
Như vậy,
ta thấy trình bày cơ sở để xét tác dụng của thuốc theo khoa học hiện đại không
đơn giản được mà đòi hỏi những tập sách riêng. Tuy nhiên ở dây chúng ta chỉ trình
bày sơ lược một sôï kiến thức chung cần thiết để hiểu một số vấn đề trình bày.
3. Đặc điểm của cây dược liệu
3.1. Đa dạng về hình thức sử dụng
Các
cây dược liệu được chia làm ba nhóm
* Nhóm
cây cỏ được sử dụng trực tiếp để chữa trị bệnh.
Ví dụ:
Rau má, gừng, lá lốt, mã đề, kinh giới, tía tô ...
* Nhóm
cây cỏ trước sử dụng qua bào chế.
Ví dụ:
Cây sinh địa (địa hoàng), sâm, gừng, hà thủ ô, tam thất
* Nhóm
cây cỏ làm nguyên liệu chiết xuất các chất có hoạt tính cao.
Ví dụ:
Thanh cao hoa vàng, bạc hà, hoa hòe...
3.2 . Đa dạng về chu kỳ sống
+ Cây
1 năm: gừng, ngải cứu, sinh địa...
+ Cây
2 năm: mạch môn, cát cánh, bạch truột, nga truật...
+ Cây
lâu năm: Cam, quýt, hồi, sứ, duối, gáo, thông, xoài...
3.3. Đa dạng về dạng cây :
+ Thân
thảo mềm yếu: mã đề, lá lốt, ba kích, hà thủ ô, bồ công anh...
+ Thân
bụi: đinh lăng, nhân trần, hoàn ngọc...
+ Thân
gỗ nhỏ: nhóm Citrus, hoa hòe,...
+ Thân
gỗ lớn: hồi, quế, đỗ trọng, long não, canhkina...
3.4. Đa dạng về phân bố:
Cây dược
liệu phân bố trên nhiều địa hình
+ Vùng
ven biển: dừa cạn, hương phụ...
+ Vùng
đồng bằng: bạc hà, hương nhu, bạch chỉ, sâm đại hành...
+ Vùng
giáp ranh đồng bằng và trung du: sả, ngưu tất, rau má...
+
Trung du: quế, hồi, sa nhân...
+ Núi
cao: sâm, tam thất, đỗ trọng, sinh địa...
3.5. Đa dạng về bộ phậ n sử dụng (phương pháp khai thác, thu hái)
+ Các
cây dược liệu khai thác rễ củ: sinh địa, hoài sơn, tam thất, sâm đại hành,
trinh nữ, cỏ tranh, ngưu tất...
+ Các
cây dược liệu khai thác thân cành: quế, long não,...
+ Khai
thác để chưng cất tinh dầu: bạc hà, xuyên tâm liên, thanh cao hoa vàng...
+ Khai
thác nụ hoa quả: hoa hòe, hoa hồi, bồ kết...
4. Vai trò và giá trị của cây dược liệu.
Hiện
nay theo thống k ê trên thế giới về cây dược liệu ở Châu Âu có tới 1482 cây chữa
bệnh, Á nhiệt đới và Nhiệt đới 3650 cây chữa bệnh với nhiều nhóm công dụng khác
nhau:
Hiện
có khoảng 30% tổng giá trị thuốc chữa bệnh do cây dược liệu cung cấp được khai
thác từ trong tự nhiên và được trồng trọt.
Sau
khi khảo sát các cây thuốc về nhiều phương diện khác nhau, chúng ta thấy rằng ngay
trong phạm vi riêng biệt của ng ành dư ợc, các phư ơng thức sử dụng cũng rất
phong phú.
Ngoài
việc sử dụng cổ truyền dùng nguyên dạng hay ở dạng bào chế, càng ngày các cây cỏ
càng đư ợc sử dụng nhiều để chiết xuất các chất có tác dụng sinh lý hoặc có thể
chuyển thành thuốc.
Nói
chung việc chiết xuất các cây trong tự nhiên dễ dàng hơn và rẻ tiền hơn việc tổng
hợp hoàn toàn các chất đó. Trong nhiều trường hợp, người ta tìm đến các phương pháp
bán tổng hợp. Các cây dược liệu có vô số chất tổng hợp mà việc chiết xuất thì mới
bắt đầu được đề cập đến. Ngư ời ta chỉ mới bắt đầu hướng việc sản xuất (chọn giống,
dùng các chất tiền hoạt chất) ở các thực vật hạ đẳng. Ở các thực vật thượng đẳng
chỉ mới được nghiên cứu ở một số ít loài. Mặt khác việc thống kê phân loại hệ
thực vật ứng dụng trong y học còn thiếu tính hệ thống, trong tương lai sẽ có
nhiều triễn vọng và đem lại hiệu quả cao.
Ngày
nay, chúng ta không thể phủ nhận được tầm quan trọng của việc điều trị bằng hoá
học nhưng đồng thời chúng ta vẫn phải công nhận rằng việc điều trị bằng cây cỏ
theo nghĩa rộng có giá trị gần bằng hoá trị liệu ngay ở những nước được coi là
tiên tiến nhất.
Việc
điều trị bệnh bằng phư ơng pháp kết hợp đông, tây dưỡng đang được áp dụng ở hầu
hết các châu lục, đặc biệt ở các nư ớc Châu Á có hiệu quả rất cao.
BÀI GIẢNG CÂY DƯỢC LIỆU-ThS. Vũ Tuấn Minh


Post a Comment