HÀNH
Tên khác: Hành
hương, Hành hoa.
Tên khoa học: Allium fistulosum L.; thuộc họ Hành (Alliaceae).
Mô tả: Cây thảo
sống nhiều năm, cao tới 50cm, có thân hành nhỏ, trắng hay nâu, chỉ hơi phồng, rộng
0,7-1,5cm. Lá màu xanh mốc, hình trụ rỗng, có 3 cạnh ở dưới, dài đến 30cm, có bẹ
lá dài bằng 1/4 phiến. Cán hoa (trục mang cụm hoa) cao bằng lá. Cụm hoa hình đầu
tròn, gồm nhiều hoa có cuống ngắn; bao hoa có các mảnh hình trái xoan nhọn màu
trắng có sọc xanh; bầu xanh đợt. Quả nang. Cây ra hoa vào mùa xuân, mùa
hè.
Bộ phận dùng: Củ
hành hoặc toàn cây (Bulbus seu Herba Allii); thường có tên là Thông; có khi dùng cả hạt, Thông
tử.
Phân bố sinh thái:
Cây của vùng Đông Á (ôn đới và cận nhiệt đới), được trồng rộng rãi khắp nơi làm
rau ăn hàng ngày. Nhân giống thông thường bằng cách tách bụi (củ). Cũng có thể
trồng bằng hạt vào mùa xuân, mùa thu.
Thu hái: Quanh
năm. Khi dùng củ hành, bóc lớp vỏ ngoài, nhặt hết rễ; rửa sạch. Thường dùng
tươi.
Thành phần hóa học:
Củ hành chứa tinh dầu có sulfur mà thành phần chủ yếu là chất kháng sinh
alliin. Còn có acid malic và các acid khác, galantin và chất allisulfit. Hạt chứa
S-propenyl- l- eine sulfoxide.
Tính vị, tác dụng:
Hành có vị cay, tính ấm; có tác dụng làm toát mồ hôi, lợi tiểu, tiêu viêm. Tây
y cho là nó có tính chất lợi tiêu hoá, chống thối, chống ung thư. Hạt có vị
cay, tính ấm, có tác dụng bổ thận, làm sáng mắt.
Công dụng, cách dùng:
Hành là một loại rau gia vị giữ vai trò quan trọng trong việc bếp núc. Hầu như
tất cả các món ăn đều có sử dụng Hành lá để tạo thêm phần thơm ngon. Trong nhân
dân ta thường có câu tục ngữ rất quen thuộc: "Trăm thứ canh không Hành
không ngon". Hành thường được dùng chữa: 1. Cảm lạnh, đau đầu, nghẹt mũi;
2. Khó tiêu và các bệnh lên men đường ruột; 3. Nghẽn ruột do giun đũa.
Liều dùng: Ngày
dùng 10-30g tươi dạng thuốc sắc. Dùng ngoài chữa chứng giảm niệu, bỏng và viêm
mủ da, eczema, chứng phát ban, làm các vết thương mau liền sẹo. Nghiền nát đắp
tại chỗ. Hạt dùng chữa thận hư, mắt hoa.
Bài thuốc:
1. Cảm mạo, nhức đầu,
nghẹt mũi: Củ Hành tươi 30g, Gừng 10g sắc uống. Có thể thêm Chè hương 10g nấu
nước uống khi còn đang nóng. Đắp chân cho ra mồ hôi. Có thể kết hợp dùng Hành sống
3 củ, Gừng 3 lát với Tía tô 10g thêm ít muối hoặc có thể thêm một quả trứng gà
gia vào bát cháo nóng để ăn giải cảm.
2. Nghẽn ruột do giun
đũa: Hành củ 30g nghiền ra với 30g dầu vừng và uống, mỗi ngày 2 lần.
3. Giảm niệu: Giã
Hành đắp vào rốn.
4. Eczema, phát ban,
loét ở chân: Hành tươi giã nát, cho nước đun sôi để rửa các phần đau, tuỳ
theo kích thước của phần nhiễm bệnh mà dùng lượng hành nhiều hay ít.
5. Viêm mũi, nghẹt
mũi: Dầm vài ba củ Hành để vào ly, chế nước sôi vào, trùm hoa giấy lên, hít
vào mũi. Hoặc dùng nước Hành pha loãng nhỏ mũi.
6. Chữa bệnh tê thấp:
Cho muối vào hành, thêm ít tương đậu nành, xào với dầu thực vật để ăn.
Ngày nay, người ta đã biết được giá trị của Hành cũng như Tỏi
trong việc phòng trị bệnh ung thư.
www.duoclieu.org


Post a Comment