HÀNH TÂY
Tên khoa học: Allium cepa L.; thuộc họ Hành (Liliaceae).
Mô tả: Cây thảo,
nhẵn, sống dai do một hành phình to mà ta thường gọi là củ hành, có kích thước
thay đổi, gồm nhiều vẩy thịt tức là các bẹ có chứa nhiều chất dinh dưỡng. Củ
hành có hình dạng tròn đều (hình cầu) hoặc tròn hơi dẹp hình bầu dục hoặc hình
bầu dục dài, thường có màu vàng hay màu tím hoặc màu trắng. Thân chính thức nằm
ở dưới giò mang nhiều rễ nhỏ. Lá dài hình trụ, nhọn, rỗng ở giữa. Hoa họp thành
tán giả nằm ở đầu một cán hoa hình ống tròn, phình ở giữa. Hoa màu trắng có cuống
dài. Quả hạch, có màng; 3 góc với 3 ngăn, bên trên có núm nhuỵ còn tồn tại. Hạt
có cánh dày, đen nhạt, ráp.
Bộ phận dùng: Củ (Bulbus Allii Cepae).
Phân bố sinh thái:
Hành tây có nguồn gốc từ vùng Trung Á, được trồng từ thời Thượng cổ. Hành tây
chịu lạnh giỏi ở nhiệt độ dưới 10oC. Nhưng yêu cầu nhiệt độ không
khí nơi trồng chỉ trong phạm vi 15-25oC. Thường nhân giống bằng hạt.
Tốc độ nảy mầm của hạt biến động trong phạm vi 7-15 ngày, có khi tới 20 ngày
nhưng nếu gieo hạt vào những tháng có nhiệt độ cao thì hạt mau nảy mầm hơn. Hiện
nay, các vùng trồng Hành tây chủ yếu ở nước ta dùng một trong hai giống Grano
và Granex nhập từ Pháp và Nhật. Hành Grano có củ hành tròn cao, vỏ ngoài màu
vàng đậm, thịt trắng; còn hành Granex có hình tròn dẹp, dáng dẹp, vỏ ngoài màu
vàng nhạt, thịt trắng, có đường kính củ lớn hơn; cả hai giống đều có chất lượng
ngon, đã thích hợp với hầu hết các vùng trồng hành lớn ở đồng bằng sông Hồng,
vùng duyên hải miền Trung cũng như vùng Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Thành phần hóa học:
Hành tây giàu về đường, vitamin A, B, C, muối khoáng, Na, K, P, Ca, Fe, S, l,
Si, H3PO4, acid acetic, disulfur allyl và propyl, dầu bay
hơi, glucokinin, oxydase và diastase. Ở Ấn Độ, người ta cho biết trong cây Hành
có tinh dầu (0,05%) và sulfit hữu cơ, các acid phenolic. Thành phần chủ yếu của
tinh dầu là allyl propyl disulfit. Hoạt chất là acid glycollic. Vẩy chứa
catechol và acid protocatechuic. Ở nước ta, Viện vệ sinh dịch tễ và Viện nghiên
cứu kỹ thuật ăn mặc Việt Nam đã cho biết, trong 100g Hành tây có 88g nước; 1,8g
protid; 8,3g glucid; 0,1g chất xơ; 0,8g tro và 38mg calcium, 58mg phosphor;
0,8mg chất sắt; 0,03mg caroten; 0,03 mg B1; 0,04mg B2;
0,2mg PP và tới 10mg vitamin C.
Tính vị, tác dụng:
Hành tây khi dùng trong, có tính chất kích thích chung, lợi tiểu mạnh, hoà tan
và làm giảm urê và các chlorur, chống thấp khớp, chống bệnh hoại huyết, sát khuẩn
và chống nhiễm khuẩn, gây tiết, trị ho, làm dễ tiêu hoá, cân bằng tuyến, chống
xơ cứng, chống chứng huyết khối, kích dục, chống đái đường, chống tràng nhạc,
trị giun, gây ngủ nhẹ, trị bệnh ngoài da và hệ lông. Được dùng ngoài để làm dịu
và tan sưng, sát khuẩn, chống đau, xua muỗi.
Công dụng: Hành
tây là loại rau được sử dụng phổ biến ở châu Âu trong bữa ăn hàng ngày. Ở nước
ta, Hành tây cũng thường được sử dụng để xào với các loại thịt, dùng chế dầu giấm
và để ăn sống rất được ưa chuộng. Để làm thuốc, Hành tây được chỉ dẫn dùng
trong để trị mệt mỏi, suy nhược cơ thể và thần kinh, chứng ít nước tiểu; bí dịch,
thuỷ thũng, thừa urê huyết, tăng chlorur huyết, lên men ruột, đau sinh dục tiết
niệu, đau ngực, cúm, mất trương lực tiêu hoá, mất cân bằng tuyến, béo phì, xơ cứng
động mạch, đề phòng chứng huyết khối, đề phòng sự già yếu, mệt lả, bất lực, đái
đường, viêm hạch, tạng bạch huyết, ký sinh đường ruột. Dùng ngoài để trị áp xe,
chín mé, nhọt, ong vò vẽ đốt, cước nứt nẻ, đau nửa đầu, sung huyết não, đau dây
thần kinh răng, mụn cóc, vết thương, loét và trừ muỗi.
Cách dùng: Thông
thường nhất là ăn sống, cũng có thể ngâm trong nước nóng (trị cảm cúm) hoặc đun
sôi 10-15 phút (trị ỉa chảy, thấp khớp) hoặc ngâm độ một tuần trong rượu trắng
(trị vật ký sinh đường ruột). Người ta còn làm thuốc (ngâm Hành tây trong cồn
90 độ), làm rượu thuốc 20%. Dùng ngoài dưới dạng thuốc đắp trị thấp khớp, đau đầu,
sung huyết não, viêm màng não, bí tiểu tiện, rệp đốt, mụn nhọt, áp xe, trị nứt
nẻ, vết thương v. v.., thuốc xoa (trị chín mé, tàn nhang), dịch chiết (nhỏ trị
ù tai, tẩm bông đặt vào răng sâu) hoặc cắt đôi củ Hành đặt cạnh giường ngủ để
xua muỗi.
www.duoclieu.org


Post a Comment