ĐU ĐỦ RỪNG
Tên khác: Thông
thảo gai, Thầu dầu núi.
Tên khoa học: Trevesia palmata (Roxb. ex Lindl.) Vis.;
thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae).
Mô tả: Cây nhỡ
cao 7-8m hay hơn, thân ít phân nhánh, cành có gai, ruột xốp. Lá đơn, phiến lá
phân thuỳ chân vịt, xẻ sâu như lá thầu dầu, có 5-9 thuỳ nhọn có răng, gân nổi ở
hai mặt, mép lá có răng cưa thô; cuống lá dài và có gai. Lá non phủ lông mềm,
màu nâu nhạt, lá già nhẵn. Hoa mọc thành tán, tụ thành chuỳ ở nách. Hoa to khoảng
1cm, màu trắng: Quả dài 13-18mm, có khía; hạt dẹp. Cây ra hoa tháng 5-6, quả
tháng 7-9.
Bộ phận dùng: Lõi
thân (Medulla Trevesiae), thường gọi là Thích thông thảo; tránh nhầm
với vị Thông thảo là lõi thân của cây Thông thoát mộc (Tetrapanax papyriferrus).
Lá cũng được dùng.
Phân bố: Loài
phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam. Cây mọc ở chỗ ẩm dọc theo các sông, suối,
ở thung lũng các rừng phục hồi.
Thu hái: Lõi
thân vào mùa thu, phơi khô. Lá thu hái quanh năm.
Thành phần hóa học:
lá Đu đủ rừng có saponin triterpenoid, sterol, đường khử, acid hữu cơ và
polysaccharid.
Tính vị, tác dụng:
Lõi thân có tác dụng thông tiểu, tiêu phù, lợi sữa.
Công dụng: Lõi
thân dùng chữa phù thũng, đái dắt, tê thấp và làm thuốc hạ nhệt, làm phổi bớt
nóng. Cũng được xem như là có tác dụng bổ; thường dùng nhầm với vị Thông thảo.
Liều dùng, cách
dùng: Ngày 20-30g dạng thuốc sắc. Dùng riêng hay phối hợp với cây Mua đỏ.
Lá được dùng nấu nước xông chữa tê liệt bại người và giã đắp chữa gẫy xương. Ở
Trung Quốc, người ta dùng lá chữa đòn ngã tổn thương hay dao chém thương tích.


Post a Comment