GIẦN SÀNG
Tên khác: Xà
sàng.
Tên khoa học: Cnidium monnieri (L.) Cusson; thuộc họ
Hoa tán (Apiaceae).
Mô tả: Cây thảo
hàng năm, mọc đứng, phân nhánh, có rãnh dọc, cao 50-80cm. Lá xẻ lông chim hai lần,
có các phiến dạng góc ở gốc, nhọn ở chóp, các phiến ở dưới xẻ lông chim, các
phiến ở trên chia thuỳ lông chim hoặc nguyên, có các phần phân chia nhỏ nhất độ
1-1,5mm; cuống lá dài 4-8cm, có bẹ ngắn. Hoa xếp thành tán kép, bao chung có lá
bắc không nhiều, rất hẹp; bao riêng có lá bắc khá nhiều cũng rất hẹp; cuống hoa
chung dài 7-12cm, vượt quá lá kề bên. Quả hình trái xoan, bầu dục, hơi dẹt, dài
2-5mm, rộng 1-5mm, có rìa mỏng dạng cánh.
Bộ phận dùng: Quả
(Fructus
Cnidii), thường gọi là Xà sàng tử.
Phân bố sinh thái: Cây
của vùng Ðông Á châu, Nga, Trung Quốc. Rất phổ biến trên các bờ bãi ven sông,
các nơi đất trống, trong các ruộng hoang ở nước ta. Cũng có khi được trồng.
Thành phần hoá học:
Trong hạt có tinh dầu với tỷ lệ 1,3% có mùi hắc đặc biệt mà thành phần chủ yếu
có pinen, camphen và bornyl isovaleritenat; osthol, tinh thể không màu; còn có
bergapten, enidiadin, isopimpinellin. Có một chất dầu màu đen xanh có thành phần
chủ yếu là 92,66% acid béo không no, 4,5% acid béo no và 0,38% chất không xà
phòng hoá được, 3,24% glycerin.
Tính vị, tác dụng:
Vị cay, đắng, tính ấm; có tác dụng ôn thận tráng dương, táo thấp, khư phong,
sát trùng.
Công dụng, cách dùng:
Thường dùng chữa liệt dương, phụ nữ lạnh tử cung, khí hư, xích bạch đới, lưng gối
mỏi đau.
Liều dùng: Ngày
4-12g dạng thuốc sắc uống riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác. Dùng ngoài
làm thuốc chữa phụ nữ lở ngứa âm đạo, viêm do trùng roi âm đạo, ghẻ lở.


Post a Comment