GAI
Tên khác: Gai
làm bánh, Gai tuyết.
Tên khoa học: Boehmeria
nivea (L.) Gaudich.; thuộc họ Gai (Urticaceae).
Mô tả: Cây nhỏ
cao 1,5-2m; gốc hoá gỗ. Rễ dạng củ, hình trụ thường cong queo, màu vàng chứa
nhiều nhựa gôm. Cành màu nâu nhạt, có lông. Lá lớn, mọc so le, hình trái xoan
dài 5-16, rộng 9,5-14cm, mép khía răng, mặt trên xanh, mặt dưới trắng bạc phủ
lông mềm và mịn; lá kèm hình dải nhọn, thường rụng, cuống lá màu đo đỏ. Hoa đơn
tính cùng gốc. Quả bế mang đài tồn tại. Cây ra hoa tháng 5-8, quả tháng
8-11.
Bộ phận dùng: Rễ
củ (Radix
Boehmeriae), thường gọi là Trư ma căn và lá (Folium
Boehmeriae).
Phân bố sinh thái: Loài của Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Nhật Bản,
Triều Tiên, Việt Nam, Lào, Malaixia, Úc châu. Ở nước ta, Gai mọc hoang và thường
được trồng ở vùng trung du và đồng bằng để lấy sợi đan, dệt lưới, làm giấy in bạc
rất bền, lấy lá làm bánh gai, lấy củ làm thuốc. Trồng bằng đoạn thân rễ và cũng
có thể ươm hạt. Trồng sau một năm đã có thể lấy sợi. Nếu chăm sóc tốt, có thể
thu hoạch trên 10 năm. Ta thường lấy rễ làm thuốc, có thể thu hái quanh năm, tốt
nhất vào mùa hạ hay mùa thu. Ðào rễ, rửa sạch đất cát, bỏ rễ con, thái mỏng hoặc
để nguyên, rồi phơi hay sấy khô; có khi dùng tươi. Lá có thể thu hái quanh năm.
Thành phần hoá học:
Rễ Gai chứa acid chlorogenic, acid cafeic, acid quinic, rhoifolin 0,7%,
apigenin, acid protocatechic.
Tính vị, tác dụng:
Rễ gai có vị ngọt, tính hàn, không độc, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi
tiểu, tiêu viêm, an thai, chỉ huyết. Acid chlorogenic trong rễ củ có tác dụng
tăng cường hiệu lực của adrenalin làm thông tiểu tiện, kích thích sự bài tiết mật,
nhưng lại có khả năng ức chế tác dụng của pepsin và trypsin; nó còn có tác dụng
diệt nấm và chống vi trùng.
Công dụng, cách dùng:
Thường dùng chữa 1. Cảm cúm, sốt, sởi bị sốt cao; 2. Nhiễm trùng tiết niệu,
viêm thận phù thũng; 3. Ho ra máu, đái ra máu, trĩ chảy máu; 4. Rong kinh động
thai đe doạ sẩy thai.
Liều dùng: Dùng
rễ ngày10-30g dạng thuốc sắc. Dùng ngoài chữa đòn ngã tổn thương, đụng giập bầm
máu, đinh nhọt. Lá dùng ngoài trị vết thương chảy máu, sâu bọ đốt và rắn cắn.
Giã rễ và lá tươi, hoặc lấy cây khô tán bột để đắp ngoài. Còn phối hợp với rễ
cây Vông vang đắp chữa trĩ và nhọt mụt.
Bài thuốc:
1. Rong kinh, động thai đe doạ sẩy thai, sa dạ
con: Rễ Gai 30g sắc uống trong ba đến ngày.
2. Chữa các chứng lậu,
đái buốt, đái dắt: Củ gai, Bông mã đề, mỗi vị 30g, Hành 3 nhánh, sắc uống.
3. Phụ nữ có thai,
phù thũng, đái đục, tê thấp đau mỏi, ỉa chảy kém ăn: Rễ Gai, Tỷ giải, mỗi vị
25g sắc uống.
4. Ho ra máu, đái ra
máu, phù thũng khi có mang: Rễ Gai, rễ Cỏ tranh mỗi vị 30g sắc uống.


Post a Comment