DUỐI
Tên khác: Ruối,
Duối nhám.
Tên khoa học: Streblus asper Lour.; thuộc họ Dâu tằm (Moraceae).
Mô tả: Cây nhỏ,
cao 4-5m. Thân và cành khúc khuỷu. Lá mọc so le, hình trứng, cứng, ráp, mép
khía răng. Hoa đơn tính khác gốc. Cụm hoa đực dạng đầu có cuống, đính ở dưới những
cành ngắn, gồm 10-12 hoa. Cụm hoa cái chỉ có 1 hoa. Quả mọng màu vàng, gắn trên
đài tồn tại. Mùa hoa quả tháng 6-11.
Bộ phận dùng: Vỏ
rễ, vỏ thân, lá và mủ (Cortex Radicis, Cortex, Folium et Latex
Strebli Aspris).
Phân bố: Loài của
Ấn Độ, Srilanca, Mianma, Nam Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia, Malaixia, Indonesia,
Philippin và Việt Nam. Ở nước ta, cây mọc hoang ở vùng đồi núi và thường được
trồng làm hàng rào ở khắp nơi; trồng bằng gieo hạt hoặc bằng cành. Thu hái các
bộ phận của cây quanh năm; mủ dùng tươi, các bộ phận khác rửa sạch, thái ngắn,
phơi khô, sao vàng.
Thành phần hoá học:
Trong mủ có nhựa và một ít cao su; ở mủ đông đặc, tỷ lệ nhựa là 76%, cao su là
23%. Nhựa có tác dụng làm đông mủ. Vỏ chứa một chất đắng, còn có một glucosid
là streblosid.
Tính vị, tác dụng:
Duối có vị đắng, chát, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, thông huyết,
cầm máu, sát trùng. Người ta nhận thấy chất đắng của vỏ có tác dụng đối với cơ
tim tương tự như adrenalin. Streblosid có thể so sánh với digitoxin.
Công dụng: Quả
chín ăn ngọt và thơm. Lá Duối dùng để đánh bóng đồ gỗ. Gỗ mịn, trắng, mềm, đẹp
thường dùng để khắc dấu, tiện đồ đạc. Vỏ chứa nhiều xơ dùng dệt túi, làm nguyên
liệu chế bông nhân tạo và làm giấy. Lá làm thức ăn cho gia súc. Nhiều bộ phận
được dùng làm thuốc: 1. Lá Duối: chữa trâu bò đau bụng ỉa chảy và xoa bóp chữa
bại liệt; còn dùng chữa nắng nóng. Lá sao vàng chữa băng huyết, kiết lỵ. Lá non
giã đắp trị vết thương chảy máu (thêm ít vôi tôi). 2. Nhựa mủ Duối dùng dán hai
bên thái dương chữa nhức đầu; cũng dùng chữa đinh sang, lở chốc; 3. Vỏ Duối
dùng chữa sâu răng, đau bụng, sốt, đi ỉa chảy, lỵ, trị được ho và lao phổi,
phong thấp đau nhức, chó dữ cắn và đắp bó chữa gẫy xương; 4. Cành và rễ thái mỏng
sắc uống làm thuốc thông tiểu chữa bụng trướng. Vỏ rễ chữa đái đục, bí đái.
Liều dùng: Ngày
dùng 12-20g dưới dạng thuốc sắc để uống và ngậm. Dùng ngoài lấy lượng vừa đủ. Ở
Ấn Độ, nước sắc vỏ dùng chữa sốt, lỵ và ỉa chảy. Rễ dùng đắp trị mụn nhọt mưng
mủ và viêm; cũng dùng trị rắn cắn. Nhựa mủ sát trùng, làm se, dùng đắp nứt nẻ ở
tay và ở gót chân.
Bài thuốc:
1. Chữa phù thũng: Dùng
lá Duối 12g, vỏ Bưởi (sao vàng) 12g, vỏ Quýt 12g, cây Bố rừng 12g, vỏ Tỏi 10g,
củ Sả 10g. Đổ 600ml nước sắc còn 200ml, uống mỗi thang 2 nước trong 1 ngày.
2. Đái đục: Dùng
vỏ rễ Duối, vỏ rễ Nhót, mỗi vị 20g, sắc uống.
3. Sâu răng: Dùng
vỏ Duối sắc đặc ngâm.
4. Bó gãy xương:
Dùng vỏ Duối giã nhỏ với lá Thanh táo, dây Tơ hồng và Chuối tiêu đắp bó.


Post a Comment