DỪA NƯỚC
Tên khác: Dừa lá.
Tên khoa học: Nypa fruticans Wurmb; thuộc họ Cau (Arecaceae).
Mô tả: Thân ngầm
trong bùn, dài và to (25-40cm). Lá gần như mọc vòng ở ngọn cây, hình lông chim,
dài 5-6m, có các đoạn thon, hẹp nhọn, có vảy màu lục ở mặt dưới, mép cong về
phía dưới. Cụm hoa cao đến 2m; nhánh đực vàng, mang nhiều hoa đực cao 2mm, có
tiền diệp hẹp; nhị 3. Quả dạng quả hạch họp thành buồng hình cầu đường kính tới
40cm, màu mận sậm, chứa 1 hạt cứng; phôi nhũ lúc non trong.
Bộ phận dùng: Gốc
của lá (Petiolus Nypae).
Phân bố và thu hái:
Cây mọc ở rừng sát và dựa rạch có nước lợ, gặp rất nhiều ở Cà Mau. Gò Công, Tân
An ở miền Nam và Hội An, Ba ngòi ở miền Trung là những vùng có nhiệt độ quanh
năm cao trên 20oC. Ta có đem gây trồng thử ở Thuỷ nguyên (Hải Phòng)
nhưng cây không phát triển được. Còn ở miền Nam, cây thường được trồng trong
các vuông tôm ở Cà Mau, Bến Tre để che nắng cho con tôm, kết hợp khai thác lá,
dịch nhựa. Người ta cũng trồng nhiều ở 2 bên bờ sông Cửu Long tỉnh Bến Tre và
sông Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An. Do điều kiện thổ nhưỡng khác nhau nên kích
thước và hương vị của Dừa nước ở mỗi nơi cũng khác nhau. Dừa nước trồng ở Bến
Tre do chịu ảnh hưởng của nguồn nước phù sa sông Cửu Long nên mọc tốt, quả có
kích thước lớn và vị ngọt. Ngược lại, Dừa nước trồng ở Cần Giuộc do bị ảnh hưởng
nguồn nước mặn nên phát triển kém, có quả với kích thước nhỏ hơn và vị nhạt. Ở
Bến Tre, nhân dân ta trồng Dừa nước lấy lá nên cây chỉ ra quả mỗi năm một lần
vào tháng 9 (tháng 8 âm lịch); còn ở Cần Giuộc, dừa nước không bị cắt lá nên ra
hoa kết quả quanh năm, trung bình mỗi ha trồng được 200-300 bụi Dừa nước, mỗi bụi
cho 1 quầy quả nặng chừng 3-5kg.
Thành phần hoá học:
Dịch cây chứa 15% saccharose.
Công dụng:
Quả có phôi nhũ trong ăn ngon, còn dùng nuôi lợn mau mập.
Quày quả non (bụp phèn) xào nấu với vọp có vị ngọt ngon. Nõn non còn dùng làm
thuốc lá. Chất dịch ngọt hứng được từ cuống quày quả non là một nguồn lợi để chế
biến đường và rượu hoặc giấm. Vỏ hạt cứng rắn như ngà được dùng làm để lợp nhà,
dựng vách nhà lá. Lá non (cà bắp) dùng để gói bánh nếp hay làm các vật dụng như
gàu xách, cơi trầu. Bẹ Dừa nước và sống lá được dùng để bện thừng, dệt thảm,
làm dây buộc. Cơm dừa nước ăn ngon và mát, nhiều người quen gọi là "trái
mát mật" chỉ cần cho vài miếng cơm Dừa nước vào ly, thêm đường cát và nước
đá, trộn đều để sau 5-10 phút lấy ra ăn. Có thể làm nhân chè đậu xanh ăn cũng rất
mát. Cũng có người cho rằng cơm Dừa nước còn chữa được chứng nhức đầu và đái đường
nếu như ăn thường xuyên và điều độ.
Thường người ta hay dùng phần gốc của lá Dừa nước (cà bắp)
đem nướng, vắt lấy nước trị bệnh sản hậu, hoặc dùng làm thuốc trị bệnh ỉa chảy
với liều dùng 4-8g. "Rún" lá có tác dụng cầm máu.
Ở Philippin, lá giã ra làm bột dùng làm thuốc trị các vết cắn
của động vật và rết cắn, còn dùng trị loét.


Post a Comment