ĐƠN CHÂU CHẤU
Tên khác: Đơn
châu chấu, Cuồng hay Đinh lăng gai
Tên khoa học: Aralia armata (Wall), Seem, thuộc họ
Nhân sân (Araliaceae).
Mô tả: Cây nhỏ,
cao 1-2m, có thân mảnh, mang nhiều gai cong quắp. Cành mọc loà xoà. Lá lớn, kép
lông chim 2-3 lần, có 9-11 lá chét có phiến hình trứng dài 4-8 cm, rộng 2-3cm,
nhẵn cả hai mặt, nhưng trên gân có những gai nhỏ như sợi tơ; cuống lá có bẹ. Cụm
hoa chuỳ gồm nhiều tán dài; cuống hoa có gai. Hoa nhỏ, màu lục, vàng nhạt. Quả
hạch hình tròn, màu đen. Mùa hoa quả tháng 7-9.
Bộ phận dùng: Rễ,
vỏ rễ và lá (Radix, Cortex Radicis et
Folium Araliae Armatae).
Phân bố và thu hái:
Cây của vùng Himalaya, lan tràn qua Ấn Độ sang Lào, Việt Nam, Malaixia, thường
mọc trên các nương rẫy cũ ven rừng vùng núi miền Bắc, vùng núi Tây nguyên, cho
tới vùng núi các tỉnh Nam Bộ.
Rễ thu hái quanh năm, rửa sạch phơi khô. Lá non thường dùng
tươi.
Thành phần hoá học:
Trong lá có tỷ lệ theo g% nước 84,5; protid 3,1; glucid 8,3; xơ 2,5; tro 1,5;
và theo mg%: caroten 1,65, vitamin C 12,5; Rễ chứa saponin triterpen.
Tính vị, tác dụng:
Vỏ rễ có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, tán ứ, khư phong trừ thấp.
Rễ có tác dụng kháng sinh mạnh, có thể giải độc. Thân, nhất là lôi thân có tác
dụng bổ. Lá có tác dụng tiêu độc.
Công dụng, chỉ định
và phối hợp: Vỏ rễ, rễ thường dùng chữa các chứng viêm như viêm gan cấp,
viêm họng, viêm amygdal, viêm bạch hầu, viêm khớp, viêm thận phù thũng, viêm
sưng vú. Lại dùng chữa phong thấp tê bại, dao chém thương tích, sốt rét cơn và
rắn cắn. Lõi thân dùng làm thuốc bổ. Lá non dùng làm rau ăn (do có nhiều gai
nên gọi lá Rau gai). Lá dùng đắp mụn nhọt. Nhựa của nõn non dùng chấm làm tan
chắp leo ở mắt. Quả sao khô, tán bột thổi vào mũi chống ngạt mũi.
Công dụng, chỉ định
và phối hợp: Đồng bào vùng núi thường lấy lá non, chồi non về luộc hay xào
ăn như các loại rau khác. Có thể tước bỏ gai trước khi xào, nhưng ở những nõn
non thì sau khi xào gai cũng trở nên mềm. Để làm thuốc, thường dùng 10-30g rễ
khô sắc nước uống; dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.
Bài thuốc:
1. Viêm khớp: Rễ
Đơn châu chấu 10-30g sắc uống, thường phối hợp với Xà cừ và Mặt quỷ.
2. Bạch hầu, bí đái:
Dùng 8-12g rễ cây sắc nước uống.
3. Rắn cắn: Vỏ rễ
giã lấy nước uống, bã đắp.
4. Sưng vú: Rễ
giã với muối, trộn nước vo gạo đắp. Phối hợp với vỏ cây Sảng, lá Mua đỏ, Bồ
công anh và Kim ngân.
5. Ho lâu ngày:
Rễ Đơn châu chấu, cùng với vỏ cây Khế chua, liều lượng bằng nhau, đều 20g, sắc
nước uống.


Post a Comment