DÂY THÌA CANH
Tên khác:
Lõa ti rừng, Dây muôi, Vũ hoa đằng, Chủy canh đằng.
Tên khoa học:
Gymnema sylvestre (Retzius) Schultes in Roemer & Schultes, Syst.
Veg. 6: 57. 1820.; thuộc họ Thiên lý (Asclepiadaceae).
Tên đồng nghĩa:
Periploca sylvestris Retzius, Observ.
Bot. 2: 15. 1781; Apocynum alterniflorum
Loureiro; Gymnema affine Decaisne; G. alterniflorum (Loureiro) Merrill; G. formosanum Warburg; G. sylvestre var. chinensis Bentham
Đặc điểm thực vật (Mô tả):
Dây leo cao
6-10m, nhựa mủ màu vàng, thân có lông dài 8-12cm, to 3mm, có lỗ bì thưa. Lá có
phiến bầu dục xoan ngược thon dài 6-7cm, rộng 2,5-5cm, đầu nhọn, có mũi, gân
phụ 4-6 cặp, rõ ở mặt dưới, nhăn lúc khô; cuống dài 5-8mm. Hoa nhỏ, màu vàng,
xếp thành xim dạng tán ở nách lá, cao 8mm, rộng 12-15mm; đài có lông mịn và rìa
lông; tràng không lông ở mặt ngoài, tràng phụ là 5 răng. Quả đại dài 5,5cm,
rộng ở nửa dưới; hạt dẹp, lông mào dài 3cm. Hoa tháng 7, quả tháng 8.
Bộ phận dùng:
Dây, lá phơi hay sấy khô của cây Dây thìa canh (Caulis
et Folium Gymnemae Sylvestris).
Phân bố và thu hái:
Loài
phân bố ở rừng mở, bụi rậm, hàng rào; độ cao từ 100-1000 m so với mực nước biển.
Có ở Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản (quần
đảo Ryukyu ), Malaysia, Sri Lanka, Việt
Nam. Ở nước ta cây thường mọc trong các
bờ bụi, hàng rào tại một số nơi ở miền Bắc Việt Nam từ Hải Hưng, Hải phòng, Hà
Bắc, Ninh Bình tới Thanh Hoá.
Trồng trọt:
Ở nước ta có
trồng nhiều ở Thái Nguyên, Nam Định.
Thu hái, chế biến:
Các bộ phận của toàn cây quanh năm, dùng tươi
hay phơi khô.
Thành phần
hoá học:
Cây chứa một
chất glucosidic là acid gymnemic, rất gần với acid chrysophanic nhưng khác về
một số tính chất. Lá chứa những hợp chất hữu cơ, 2 hydrat carbon, chlorophylle
a và b, phytol, nhựa, acid tartric, inositol, các hợp chất anthraquinonic và
acid gymnemic.
Từ thân Dây
thìa canh các nhà khoa học đã phân lập được các chất: Conduritol A, 1-Heptadecanol,
Stigmasterol glucoside, 1-Quercitol, 1-Octadecanol, Potassium nitrate, Lupeol
cinnamate, Stigmasterol.
Ngoài ra, cây
còn có 2 resin (một tan trong rượu), saponin, stigmasterol, quercitol, các dẫn
xuất acid amin betain, choline và trimethylamine.
Tác dụng dược lý:
a. Tác dụng hạ đường huyết:
Tác dụng hạ
đường huyết của bột lá khô Dây thìa canh đã được ghi nhận trên thỏ được gây đái
tháo đường thực nghiệm bằng alloxan do làm giảm hoạt tính của enzym tân tạo
đường và đảo ngược quá trình biến đổi thể trạng ở gan trong suốt giai đoạn tăng
đường huyết.
Chế độ ăn có
chứa bột lá với liều 500 mg/chuột trong 10 ngày có tác dụng bảo vệ đáng kể đối
với chuột gây đái tháo đường thực nghiệm
bằng beryllium nitrat và đưa mức đường huyết trở về mức bình thường trong 4
ngày so với 10 ngày ở lô chuột không được dùng Dây thìa canh. Tuy nhiên, ở lô
chuột bình thường được cho ăn bột lá Dây thìa canh trong 25 ngày lại không thấy
hạ đường huyết có ý nghĩa.
Dịch chiết
nước của lá Dây thìa canh với liều 20 mg/ngày trong 20-60 ngày làm cân bằng mức
đường huyết ở chuột cống được gây Đái tháo đườn thực ngiệm bằng STZ do phục hồi
tế bào õ đảo tụy. Dịch chiết Dây thìa canh đã làm tăng gấp đôi số lượng đảo tụy
và tế bào β.
b. Tác dụng hạ lipid máu:
Dịch chiết Dây
thìa canh có tác động lên chuyển hóa lipid, làm giảm có ý nghĩa các chất béo
tiêu hóa được, làm tăng bài tiết các Sterol trung tính và Sterol acid qua phân,
ngoài ra còn làm giảm tổng lượng Cholesterol toàn phần và mức Triglycerid trong
huyết tương.
c. Tác dụng làm mất đi cảm giác ngọt:
Tác dụng này
do Gurmarin, polypeptid phân lập được từ Dây thìa canh gây ra. Nó làm ức chế
chọn lọc cảm giác ngọt mà không ảnh hưởng đến các vị giác khác ở chuột cống. Cơ
chế của gurmarin được cho là tác dụng trên thần kinh cảm giác của chuột. Tác
dụng mất cảm giác ngọt của gurmarin kéo dài khá lâu 2-3h, tác dụng này sẽ mất
đi nhanh chóng dưới tác dụng của chất kháng gurmarin trong huyết tương hoặc
β-cyclodextrin trên chuột nhắt C57BL.
Tính vị, tác dụng:
Lá và acid gymnemic không có tác dụng kháng khuẩn. Tác dụng
độc của nó biểu hiện bởi các trạng thái làm ăn kém ngon, ỉa chảy, suy nhược. Nó
kích thích tim và hệ thống tuần hoàn, gây bài tiết nước tiểu. Thuốc có tác dụng
gián tiếp lên sự tiết insulin của tuỵ tạng, làm giảm glucose-niệu, làm mất vị
ngọt của đường và các vị đắng của thuốc đắng trong một vài giờ. Lá cũng có tính
chất nhuận tràng do có các dẫn xuất anthraquinon; còn có tính gây nôn. Rễ cũng
có tác dụng gây nôn và long đờm.
Công dụng:
Thường dùng trị đái đường, với liều 4g lá khô đủ để làm
ngưng glucose-niệu. Lá cũng dùng làm thuốc dễ tiêu hoá, còn dùng tán thành bột
để chống độc, ở Ấn Độ, người ta dùng đắp lên vết cắn và dùng sắc uống trong để
trị rắn độc cắn. Ở Trung Quốc, người ta dùng cả cây bỏ rễ và quả làm thuốc trị
phong thấp tê bại, viêm mạch máu, rắn độc cắn, trĩ và các vết thương do dao,
đạn; còn dùng diệt chấy rận.
Liều dùng, cách dùng:
Ngày 4-6g dạng
thuốc sắc hoặc hãm với nước.
Bài thuốc:
Hạ đường
huyết, kiểm soát đường huyết, phòng và hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Cao lá
dây thìa canh (Gymnema sylvestre) 0,125g
tương đương với 1g lá khô. Tá dược vừa đủ 1 viên.


Post a Comment